Xây dựng Đảng

Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI

Thứ Năm, 13/08/2015

                 

NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG; PHÁT HUY DÂN CHỦ VÀ SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN; KHÔNG NGỪNG SÁNG TẠO, ĐỔI MỚI; KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN LỰC; XÂY DỰNG NỀN TẢNG ĐỂ VĨNH PHÚC SỚM TRỞ THÀNH THÀNH PHỐ VĂN MINH, HIỆN ĐẠI

                              (Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV

                                       tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI)

Năm năm qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV trong bối cảnh có nhiều thuận lợi: Hoà bình, hợp tác và phát triển là xu thế chủ đạo trên thế giới và khu vực. Đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, ngày càng hội nhập sâu và toàn diện với thế giới theo hướng tích cực, chủ động, tạo cơ hội mới, thị trường mới cho hợp tác phát triển. Sau gần 20 năm tái lập, vị thế của tỉnh ngày càng được khẳng định, những thành tựu to lớn đã đạt được là tiền đề, cơ sở để tỉnh tiếp tục phát triển. Tuy nhiên, tình hình thế giới và khu vực vẫn diễn biến phức tạp, khó lường; khủng khoảng chính trị, hậu khủng hoảng tài chính, tiền tệ và suy thoái kinh tế toàn cầu; trong nước thị trường tài chính, tín dụng, thị trường bất động sản diễn biến bất lợi; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu đã tác động trực tiếp và ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh và đời sống nhân dân.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, sâu sát của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, sự nỗ lực phấn đấu của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân các dân tộc trong tỉnh; tỉnh ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đạt được những kết quả quan trọng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, kinh tế tiếp tục tăng trưởng, văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, quốc phòng, an ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố và phát huy; hệ thống chính trị được tăng cường.

Phần thứ nhất

                                            ĐÁNH GIÁ 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XV, NHIỆM KỲ 2010 - 2015

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1- Kinh tế của tỉnh tiếp tục tăng trưởng; quy mô nền kinh tế được mở rộng

Kinh tế của tỉnh tăng trưởng cao hơn so với bình quân chung cả nước; bình quân giai đoạn 2011-2015 ước đạt 6,2%/năm, trong đó: Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 3,4%; công nghiệp - xây dựng tăng 9,4%/năm; dịch vụ tăng 7,6%/năm. Tổng sản phẩm địa phương (GRDP) không ngừng được mở rộng và tăng lên, năm 2015 ước đạt 73,7 nghìn tỷ đồng (theo giá hiện hành), tăng 1,7 lần so với năm 2010. GRDP bình quân đầu người đến năm 2015 ước đạt 70 triệu đồng, gấp hơn 2 lần so với năm 2010. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ; đến năm 2015 tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm 62,1%; dịch vụ chiếm 28,5% và nông, lâm nghiệp, thuỷ sản còn 9,4%. Huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng bình quân 6,6%/năm.

Sản xuất công nghiệp khẳng định là nền tảng của nền kinh tế. Tỉnh đã chỉ đạo tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp; ban hành và thực hiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ; lựa chọn các nhà đầu tư đủ năng lực để đầu tư hạ tầng khu công nghiệp; giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn tín dụng ưu đãi, giảm giá thuê đất và gia hạn nộp thuế đất; huy động nguồn kinh phí ứng trước từ doanh nghiệp để giải phóng mặt bằng nhanh. Sản xuất công nghiệp đã từng bước khắc phục khó khăn và tăng trưởng trở lại trong những năm cuối nhiệm kỳ. Ước giá trị sản xuất ngành công nghiệp – xây dựng tăng bình quân 9,6%/năm, trong đó công nghiệp tăng 9,2%/năm. Các sản phẩm công nghiệp ngày càng tăng về số lượng và chủng loại, nhiều sản phẩm mới được sản xuất như linh kiện điện tử, hàng công nghiệp tiêu dùng,... Sản phẩm ô tô, xe máy tiếp tục giữ vai trò chủ lực, chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh. Tiểu thủ công nghiệp, làng nghề tiếp tục được quan tâm, bảo tồn, duy trì và phát triển; hiện có 24 làng nghề được công nhận đạt chuẩn.

Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt kết quả khá, góp phần quan trọng đảm bảo ổn định xã hội. Bình quân giá trị sản xuất toàn ngành tăng 3,3%/năm, đạt mục tiêu Đại hội (MTĐH) đề ra (MTĐH: 3-3,5%/năm). Cơ cấu giá trị sản xuất trong nội bộ ngành tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, giảm tỷ trọng trồng trọt, đến năm 2015: Chăn nuôi chiếm 52,2% (tăng 4,1% so với năm 2010), trồng trọt chiếm 40,8% (giảm 4,9% so năm 2010). Nhiều cơ chế, chính sách đầu tư, hỗ trợ phát triển nông, lâm nghiệp, thủy sản được ban hành và thực hiện có hiệu quả. Cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, thời vụ, hình thức sản xuất chuyển biến tích cực, đúng hướng, đem lại hiệu quả ngày càng cao. Đã hình thành nhiều vùng trồng trọt hàng hoá tập trung; giá trị thu nhập đến năm 2015 ước đạt 135 triệu đồng/ha, tăng 1,6 lần so với năm 2010. Chăn nuôi đang khẳng định là ngành sản xuất chính, đem lại giá trị thu nhập cao; quy mô tổng đàn gia súc, gia cầm ổn định; nhiều trang trại, khu chăn nuôi tập trung với quy mô lớn, áp dụng kỹ thuật tiên tiến được hình thành. Sản xuất thủy sản phát triển khá, diện tích nuôi trồng hằng năm ổn định, sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng bình quân 4%/năm. Công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng được quan tâm; tỷ lệ che phủ rừng từ 22,4% năm 2010 lên 25% năm 2015.

Các lĩnh vực của khu vực dịch vụ đều có tăng trưởng; sản phẩm dịch vụ ngày càng phong phú, đa dạng. Tỉnh uỷ chỉ đạo tập trung phát triển 5 lĩnh vực dịch vụ có thế mạnh, có tiềm năng (du lịch, thương mại, y tế, giáo dục và vận tải). Một số ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn vẫn giữ được mức tăng trưởng khá. Kinh doanh du lịch có nhiều đổi mới; các khu du lịch: Tam Đảo, Đại Lải, Đầm Vạc được đầu tư, khai thác ngày càng hiệu quả; đã tập trung đầu tư hạ tầng và hoàn thành nhiều công trình phục vụ văn hoá, du lịch như: Quảng trường, Nhà hát, Văn Miếu tỉnh, Khu danh thắng Tây Thiên; góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân và thu hút hàng triệu lượt khách ngoài tỉnh đến với Vĩnh Phúc; doanh thu du lịch bình quân tăng 7,7%/năm.

Kinh doanh thương mại phát triển theo hướng hiện đại, văn minh. Một số trung tâm thương mại, siêu thị lớn đã đi vào hoạt động. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng bình quân 18,94%/năm; giá cả hàng hoá tương đối ổn định, chỉ số giá tiêu dùng tăng không cao. Đã phát triển một số mặt hàng xuất khẩu mới, ước năm 2015 tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,96 tỷ USD, gấp 3,5 lần so với năm 2010; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2,1 tỷ USD tăng 6,9%/năm. Tỷ lệ nhập siêu giảm so với giai đoạn trước.

Dịch vụ giáo dục, đào tạo, y tế tiếp tục có những chuyển biến tích cực và bước đầu có triển vọng tốt. Dịch vụ vận tải cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và đi lại của nhân dân. Đang tích cực huy động vốn ODA, trái phiếu Chính phủ để đầu tư một số tuyến giao thông, bệnh viện, trường học. Dịch vụ bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển. Dịch vụ tín dụng, ngân hàng đáp ứng nhu cầu của xã hội; nợ xấu đã được kiềm chế và xử lý.

Thu ngân sách nhà nước tăng nhanh; chi ngân sách cơ bản đáp ứng nhiệm vụ chủ yếu của tỉnh. Tỉnh đã có nhiều giải pháp tạo và khai thác nguồn thu ngân sách; tổng thu ngân sách tăng bình quân 7,6%/năm, trong đó thu nội địa tăng 12,1%/năm. Năm 2015, thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn ước đạt 22,1 nghìn tỷ đồng, trong đó thu nội địa chiếm 87% tổng thu. Công tác quản lý chi ngân sách được tăng cường; kiểm soát chặt chẽ theo dự toán; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Ước giai đoạn 2011-2015, tổng chi ngân sách bình quân tăng 0,9%/năm.

Môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện; thu hút đầu tư đạt kết quả cao; doanh nghiệp dân doanh từng bước vượt qua khó khăn; đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước được thực hiện tốt; kinh tế tập thể có sự phát triển.

Công tác xúc tiến đầu tư, tạo môi trường đầu tư thuận lợi và giải quyết ngay các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp đang đầu tư tại tỉnh được chú trọng và là kênh quan trọng nhất trong xúc tiến đầu tư. Thực hiện có hiệu quả Đề án cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh, trong đó lấy cải cách thủ tục hành chính làm khâu đột phá; ban hành nhiều chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư. Tăng cường các đoàn đi xúc tiến đầu tư ở các khu vực quan trọng. Nhiều nhà đầu tư có uy tín, năng lực hàng đầu châu Á và trong nước đã và đang đầu tư có hiệu quả tại tỉnh. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) cải thiện vượt bậc, từ vị trí 43/63 tỉnh, thành năm 2012 lên vị trí thứ 6/63 vào năm 2014 và Chỉ số cải cách hành chính của tỉnh luôn ổn định ở mức cao. Trong 5 năm, thu hút được 268 dự án, trong đó có 166 dự án DDI (vốn đăng ký 19,4 nghìn tỷ đồng) và 102 dự án FDI (vốn đăng ký 1,26 tỷ USD). Tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp trên diện tích đất công nghiệp đã thu hồi và giao đất xây dựng hạ tầng các khu công nghiệp đạt 78%.

Công tác vận động thu hút các dự án ODA được tỉnh chỉ đạo quyết liệt và đạt nhiều kết quả quan trọng. Đến nay, có 03 dự án được nhà tài trợ chấp thuận bằng văn bản, dự kiến số vốn được vay khoảng 350 triệu USD. Ngoài ra, đang tiếp tục triển khai thực hiện 6 dự án ODA thuộc dự án Cải thiện môi trương đầu tư tỉnh.

Phát triển doanh nghiệp được tỉnh quan tâm, chú trọng. Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, là cơ sở để củng cố và phát triển doanh nghiệp bền vững. Vận hành Cổng thông tin đối thoại doanh nghiệp - chính quyền; định kỳ tổ chức các cuộc đối thoại 2 lần/năm với các doanh nghiệp. Trong 5 năm, đã thành lập mới gần 3.000 doanh nghiệp, nâng tổng số doanh nghiệp toàn tỉnh lên trên 6.600 doanh nghiệp. Việc sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước được thực hiện có hiệu quả. Kinh tế tập thể, nhất là các hợp tác xã phi nông nghiệp có bước phát triển. Các thành phần kinh tế có nhiều đổi mới, năng động và đóng góp ngày càng lớn cho nền kinh tế.

Quản lý nhà nước về quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng, tài nguyên có nhiều đổi mới theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả.

Công tác lập, quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch trên các lĩnh vực luôn đi trước một bước và được bố trí đủ nguồn lực thực hiện, triển khai một cách khoa học, đồng bộ. Đến nay, đã hoàn thành và phê duyệt hầu hết các quy hoạch, là cơ sở cho việc xây dựng hạ tầng, triển khai các dự án một cách đồng bộ và quản lý chặt chẽ; trong đó nổi bật là quy hoạch Vùng tỉnh, quy hoạch chung đô thị Vĩnh Phúc, quy hoạch phân khu theo quy hoạch chung đô thị Vĩnh Phúc và quy hoạch ngành, lĩnh vực. Đồng thời, trong quá trình thực hiện đã thường xuyên rà soát, bổ sung, điều chỉnh các loại quy hoạch để nâng cao chất lượng, đảm bảo tính thống nhất, phù hợp và tính khả thi của quy hoạch.

Công tác quản lý đầu tư xây dựng được quan tâm, chú trọng và đi vào nền nếp, nhất là sau khi có Chỉ thị số 1792/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Phân cấp quyết định đầu tư được thực hiện mạnh mẽ, quyết liệt gắn với phân quyền và phân trách nhiệm. Chuẩn bị đầu tư, phân bổ vốn đầu tư có trọng điểm; phân bổ cơ cấu vốn hợp lý, công khai, minh bạch thông qua nguyên tắc, tiêu chí và định mức. Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng được nâng lên; công tác quyết toán vốn đầu tư có sự chuyển biến tích cực, đã công bố công khai các đơn vị chậm quyết toán; việc đầu tư dàn trải, phê duyệt dự án tràn lan,... từng bước được khắc phục.

Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới theo lộ trình. Hạ tầng giao thông được quan tâm chú trọng; các tuyến đường vành đai, hướng tâm, đường qua các khu công nghiệp, tuyến đường quan trọng qua các địa phương được cải tạo, nâng cấp hoặc đầu tư xây dựng mới; toàn bộ hệ thống đường đô thị đã được cứng hóa; nhiều tuyến đường giao thông nông thôn, một số đường giao thông nội đồng được kiên cố hóa. Hạ tầng điện được phát triển rộng khắp, 100% các xã được phủ lưới điện quốc gia, 99,8% dân số được dùng điện lưới. Hạ tầng cấp, thoát nước được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn đảm bảo cấp nước cho đô thị Vĩnh Yên, Phúc Yên và các thị trấn huyện lỵ. Hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển. Các công trình hạ tầng xã hội được quan tâm đầu tư, nhất là trường học, cơ sở y tế, nhà văn hóa. Một số công trình văn hóa, phúc lợi được tập trung đầu tư xây dựng trong thời gian ngắn đã góp phần thay đổi diện mạo, cảnh quan đô thị, đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư.

Đô thị phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng; đã tập trung đầu tư thực hiện Chương trình tổng thể về xây dựng và phát triển đô thị Vĩnh Phúc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; ưu tiên xây dựng hạ tầng khung đô thị. Tập trung đầu tư, chỉnh trang các đô thị lớn của tỉnh, Vĩnh Yên trở thành đô thị loại II; Phúc Yên trở thành đô thị loại III; 20 thị trấn, xã được công nhận là đô thị loại V. Việc xây dựng, phát triển nhà ở xã hội trong các khu đô thị được quan tâm, đầu tư. Tỷ lệ dân cư đô thị chiếm 30%.

Quản lý nhà nước về đất đai, khoáng sản được chú trọng theo nội dung Nghị quyết của Tỉnh ủy về tăng cường công tác quản lý, sử dụng tài nguyên trên địa bàn tỉnh. Việc khai thác, sử dụng tài nguyên, khoáng sản; giao đất, cho thuê đất được thực hiện theo đúng pháp luật; những vi phạm về quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, khoáng sản được xử lý nghiêm minh; đã chấn chỉnh tình trạng lấn chiếm đất công, sử dụng sai mục đích và lãng phí đất. Thực thi có hiệu quả các cơ chế, chính sách về đất ở, đất dịch vụ, bồi thường, tái định cư; những vướng mắc về đất dịch vụ tồn tại từ nhiều năm đã cơ bản được giải quyết. Đã huy động cả hệ thống chính trị tham gia bồi thường, giải phóng mặt bằng để phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; giai đoạn 2010 - 2015 ước bồi thường, giải phóng mặt bằng được 1.387 ha, trong đó mở rộng diện tích trường học được trên 220 ha.

Chương trình xây dựng nông thôn mới được đặc biệt quan tâm, đạt được những kết quả quan trọng. Tỉnh đã sớm hoàn thành công tác quy hoạch ngay từ năm 2011; huy động cả hệ thống chính trị, các tổ chức và người dân cùng tham gia xây dựng nông thôn mới; thay đổi cách chỉ đạo và triển khai, lựa chọn các xã làm điểm, phân công lãnh đạo trực tiếp chỉ đạo từng xã, từng tiêu chí, ưu tiên nguồn lực đầu tư; ban hành hệ thống cơ chế chính sách hỗ trợ đầu tư đồng bộ, công khai, phân cấp rõ ràng, kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc, quyết liệt chỉ đạo tập trung vốn đầu tư hàng năm để hỗ trợ các xã xây dựng nông thôn mới đạt chuẩn. Đến hết năm 2015 dự kiến có 2 huyện đạt chuẩn nông thôn mới; toàn tỉnh có 72 xã đạt chuẩn, đạt tỷ lệ 64,3% số xã trong tỉnh, vượt mục tiêu đề ra (MTĐH: 35-40%).

2- Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ; khoa học công nghệ được quan tâm; bảo vệ môi trường được tăng cường

Giáo dục - đào tạo tiếp tục phát triển theo hướng đổi mới, chất lượng giữ ổn định ở mức cao. Việc đầu tư cơ sở vật chất trường học được chuyển dần sang đầu tư theo chiều sâu, đầu tư trang thiết bị phục vụ dạy và học theo hướng hiện đại, chuẩn quốc gia. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia được nâng lên, toàn tỉnh đạt 66%. Vĩnh Phúc là tỉnh thứ 5 của toàn quốc được công nhận đạt chuẩn phổ cập mẫu giáo 5 tuổi vào năm 2013 và đạt phổ cập tiểu học mức độ 2 năm 2014. Chất lượng dạy và học ở các cấp tiếp tục được nâng lên; học sinh của tỉnh luôn đạt thứ hạng cao trong các cuộc thi cấp quốc gia, khu vực và quốc tế. Phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập được thực hiện tốt.

Việc phân luồng học sinh sau Trung học cơ sở được khẳng định là chủ trương đúng và đạt kết quả tốt; tỷ lệ học sinh sau Trung học cơ sở vào hệ bổ túc trung học phổ thông - nghề đạt 27%. Giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục thường xuyên được quan tâm đầu tư. Hệ thống mạng lưới cơ sở dạy nghề đang được kiện toàn và củng cố theo hướng thu gọn đầu mối, nâng cao chất lượng; dạy nghề đã từng bước gắn với giải quyết việc làm; đến năm 2015 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 66% (đạt MTĐH đề ra), trong đó lao động qua đào tạo được cấp chứng chỉ 22%.

Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm thường xuyên. Tổ chức bộ máy ngành y tế được củng cố từ tỉnh đến cơ sở. Hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật của ngành đã được tăng cường, đến năm 2015 đầu tư cho ngành y tế đạt mức 7% tổng vốn đầu tư phát triển của tỉnh; tỷ lệ giường bệnh/vạn dân ngày càng tăng, đến năm 2015 ước đạt 25,1 giường/vạn dân. Số lượng và chất lượng đội ngũ y, bác sỹ của tỉnh tăng lên; ước đến hết năm 2015, đạt tỷ lệ 8,5 bác sỹ/vạn dân (MTĐH: 8 bác sỹ/vạn dân). Chất lượng khám chữa bệnh từng bước được cải thiện, đã triển khai ứng dụng một số kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị. Các chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế đều cơ bản đạt các mục tiêu, chỉ tiêu theo yêu cầu; đã chủ động kiểm soát, phòng chống các bệnh nên không có dịch lớn xảy ra. Công tác chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ em được duy trì thường xuyên; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi liên tục giảm, đến năm 2015 còn 10% (đạt MTĐH đề ra). Việc tự chủ, đổi mới, xã hội hóa để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh của một số cơ sở y tế đạt kết quả bước đầu.

Hoạt động văn hoá, thông tin, thể thao, phát thanh và truyền hình được duy trì, ổn định và phát triển, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao từ tỉnh đến cơ sở được củng cố và quan tâm đầu tư. Các công trình văn hóa, di tích lịch sử văn hóa tiếp tục được đầu tư trùng tu, nâng cấp và khai thác, sử dụng hiệu quả. Các giá trị văn hoá phi vật thể được bảo tồn và phát huy. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” tiếp tục phát triển sâu rộng. Các hoạt động văn hoá, văn nghệ quần chúng được nhân dân hưởng ứng, tham gia sôi nổi. Phong trào xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá được triển khai tích cực, ước đến hết năm 2015 tỷ lệ hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá là 85% (MTĐH đạt 80%), tỷ lệ làng, khu phố đạt tiêu chuẩn văn hoá là 71%. Hoạt động thể dục thể thao quần chúng được duy trì thường xuyên, thể thao thành tích cao được chú trọng.

Hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, sáng tác văn học nghệ thuật được quan tâm, có chính sách khuyến khích phát triển và có tiến bộ; được cải thiện cả về hình thức và nội dung, góp phần quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh và nâng cao dân trí. Công tác quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản được tăng cường.

Công tác giải quyết việc làm, giảm nghèo; thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, chăm sóc người có công, đảm bảo an sinh xã hội được thực hiện tốt và huy động được sự tham gia của toàn xã hội. Cơ chế, chính sách dạy nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo của tỉnh được ban hành kịp thời, đã tạo sự thay đổi quan trọng trong dạy nghề. Hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm được tăng cường, mở ra cho người lao động nhiều cơ hội việc làm. Các dự án vay vốn tạo việc làm, dự án hỗ trợ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài và các chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm được thực hiện có hiệu quả, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho 21,35 nghìn lao động, vượt mục tiêu Đại hội (MTĐH là 20 - 21 nghìn lao động/năm). Cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực, đến năm 2015 tỷ lệ lao động có việc làm chính trong lĩnh vực nông nghiệp giảm còn 37%. Chương trình giảm nghèo được lồng ghép với nhiều chương trình, kế hoạch về phát triển kinh tế - xã hội, tỷ lệ hộ nghèo liên tục giảm, ước còn 2,5% vào năm 2015 và bình quân giảm 1,7%/năm, đạt mục tiêu Đại hội đề ra (MTĐH giảm 1,5 - 2%/năm). Thực hiện các chính sách về dân tộc, tôn giáo theo đúng chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước. Các chính sách an sinh xã hội, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, ưu đãi người có công đảm bảo kịp thời, đầy đủ, đúng quy định. Đến năm 2015, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế trên địa bàn ước đạt 71%.

Khoa học và công nghệ được quan tâm. Hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ được đổi mới; nhiều tiến bộ kỹ thuật, mô hình ứng dụng khoa học kỹ thuật đạt kết quả cao, được triển khai áp dụng trong sản xuất. Nguồn vốn đầu tư khoa học và công nghệ đã tập trung đầu tư cho các tổ chức khoa học công lập, các đơn vị thuộc ngành nông nghiệp, y tế, giáo dục và đào tạo... góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân. Yếu tố năng suất, chất lượng, hàm lượng khoa học và công nghệ trong sản phẩm hàng hoá ngày càng tăng. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ được nâng lên.

Các hoạt động bảo vệ môi trường được tăng cường. Hoạt động truyền thông về bảo vệ môi trường được triển khai sâu rộng, ý thức của nhân dân đã được nâng lên. Kinh phí cho cải thiện và bảo vệ môi trường được ưu tiên đầu tư, phân bổ trực tiếp đến cấp xã để triển khai. Tỉnh đã đầu tư các lò đốt rác liên xã, hỗ trợ xây dựng hầm biogas, hỗ trợ đầu tư công trình xử lý nước thải... góp phần giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn. Các hoạt động bảo vệ môi trường ở các khu đô thị, khu, cụm công nghiệp và làng nghề thường xuyên được quan tâm; tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn ở đô thị đạt 95%. Xã hội hóa bảo vệ môi trường, thu gom, xử lý chất thải đạt kết quả bước đầu.

3- Quốc phòng được giữ vững và tăng cường; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; cải cách tư pháp có chuyển biến tích cực; công tác đối ngoại được quan tâm

Quân sự - Quốc phòng được tăng cường. Công tác bảo đảm quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên được các cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm, chú trọng, trọng tâm là giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện vững chắc. Công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh được đổi mới đem lại nhiều kết quả tích cực. Tỉnh đã xây dựng và triển khai có hiệu quả Đề án xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn 2020; xây dựng một số công trình quân sự, quốc phòng quan trọng, đầu tư trang bị, phương tiện kỹ thuật nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang và phục vụ cho hoạt động của khu vực phòng thủ. Các cuộc diễn tập khu vực phòng thủ huyện, thành phố, thị xã, diễn tập chiến đấu trị an; diễn tập phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn được chỉ đạo chặt chẽ, có nhiều đổi mới, đạt hiệu quả thiết thực.

Lực lượng vũ trang tỉnh thường xuyên được củng cố, kiện toàn; giáo dục và huấn luyện, đảm bảo vững mạnh về chính trị, chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu ngày càng được nâng cao, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhất là trong giữ gìn an ninh chính trị, phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai. Đặc biệt, tỉnh đã tổ chức làm điểm cho Bộ Quốc phòng, Quân khu 2 thăm quan các cuộc diễn tập dự bị động viên năm 2011; diễn tập chiến đấu trị an cấp xã năm 2014 đều đạt kết quả xuất sắc. Hằng năm, hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển quân, đảm bảo số lượng và chất lượng. Công tác dân vận, chính sách quân đội và hậu phương quân đội được thực hiện tốt, đúng quy định.

An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Lực lượng công an các cấp đã chủ động nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, nhất là những địa bàn, khu vực trọng điểm, phức tạp. Chủ động giải quyết kịp thời những vấn đề phức tạp nảy sinh về an ninh trật tự ngay từ cơ sở, bảo đảm an ninh trật tự cho việc thi công các công trình trọng điểm trên địa bàn, không để phát sinh “điểm nóng”. Chủ động phối hợp, nắm chắc tình hình hoạt động của các doanh nghiệp; phòng ngừa, ngăn chặn, không để xảy ra đình công, lãn công trái pháp luật, tạo lòng tin cho các doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn tỉnh.

Thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa lực lượng công an, quân sự trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng. Lực lượng công an đã mở nhiều đợt tấn công, trấn áp tội phạm, tệ nạn xã hội, kiềm chế sự gia tăng của tội phạm, không để tội phạm có tổ chức hoạt động theo kiểu “xã hội đen”. Đã phát hiện điều tra làm rõ 82,62% các vụ phạm pháp hình sự, 96,5% các vụ trọng án.

Công tác quản lý về an ninh trật tự được tăng cường; trật tự an toàn giao thông được đảm bảo, tai nạn giao thông 5 năm liền đạt mục tiêu ba giảm. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được quan tâm chỉ đạo, phát triển sâu rộng, huy động đông đảo quần chúng nhân dân tham gia giữ gìn an ninh, trật tự ở địa bàn dân cư.

Công tác cải cách tư pháp chuyển biến tích cực. Các cấp ủy đảng, chính quyền đã quan tâm đẩy mạnh công tác cải cách tư pháp. Thực hiện có hiệu quả chủ trương tăng thẩm quyền xét xử cho Tòa án cấp huyện, mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các khiếu kiện hành chính. Chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được nâng lên. Công tác xây dựng, phổ biến, giáo dục pháp luật; rà soát, kiểm tra, theo dõi thi hành văn bản pháp luật được duy trì thường xuyên. Công tác bổ trợ tư pháp được quan tâm chỉ đạo, đầu tư đúng định hướng. Việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại đạt kết quả bước đầu.

Công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân có sự chuyển biến tích cực ngay từ cơ sở. Các cơ quan, tổ chức đã tập trung tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định; nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo, tranh chấp phức tạp được chỉ đạo giải quyết dứt điểm, kịp thời; đã cơ bản giải quyết xong các vụ khiếu nại, tố cáo kéo dài. Công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo được tăng cường.

Hoạt động đối ngoại được mở rộng và đi vào thực chất. Công tác đối ngoại được chú trọng, có hiệu quả trên cả ba trụ cột ngoại giao (chính trị, kinh tế, văn hóa). Tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác, hữu nghị với các địa phương truyền thống của Lào, Hàn Quốc, Nhật Bản; đồng thời tích cực chủ động tìm hiểu, thiết lập quan hệ hợp tác hữu nghị với các địa phương của một số nước khác; tiếp tục đẩy mạnh công tác đối ngoại nhân dân. Từng bước nâng cao chất lượng hoạt động của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh và các hội hữu nghị song phương. Ngoài việc vận động, thu hút vốn ODA, trong 5 năm, đã tiếp nhận 199 khoản viện trợ với kinh phí trên 34,43 triệu USD.

4- Việc phát huy dân chủ, xây dựng chính quyền, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân được quan tâm, chú trọng

Tổ chức và hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp có nhiều đổi mới. Đã kịp thời cụ thể hóa các chủ trương, quan điểm của cấp ủy thành cơ chế, chính sách, tạo khuôn khổ, môi trường pháp lý thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Chất lượng ban hành cơ chế, chính sách được nâng lên; nhiều cơ chế, chính sách của tỉnh đi vào cuộc sống. Nội dung, chương trình các kỳ họp được chuẩn bị kỹ, có nhiều đổi mới, dành nhiều thời gian cho thảo luận, chất vấn, trả lời chất vấn. Hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân, thường trực, các ban của hội đồng nhân dân và các đại biểu hội đồng nhân dân được tăng cường, tập trung vào những vấn đề cử tri quan tâm. Việc tiếp thu và giải quyết những kiến nghị của cử tri được coi trọng và trả lời kịp thời. Mô hình thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, phường được triển khai thực hiện nghiêm túc theo đúng chỉ đạo của Trung ương.

Chất lượng hoạt động của ủy ban nhân dân các cấp được nâng lên theo hướng tăng cường hiệu lực, hiệu quả. Ủy ban nhân dân các cấp đã có nhiều giải pháp tích cực tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực. Công tác quản lý, điều hành có nhiều đổi mới; cải cách hành chính tiếp tục được đẩy mạnh; tỷ lệ chính quyền đạt vững mạnh hàng năm đều tăng. Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) liên tục tăng qua các năm, năm 2014 đứng ở vị trí 16/63 tỉnh, thành. Quá trình chỉ đạo điều hành của chính quyền các cấp tập trung vào những vấn đề lớn, những nhiệm vụ trọng tâm về phát triển kinh tế - xã hội. Trong nhiệm kỳ, đã làm tốt việc tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, đẩy mạnh thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; cơ bản khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải và từng bước giải quyết nợ đọng trong đầu tư xây dựng cơ bản; bảo đảm an ninh, quốc phòng và an sinh xã hội,... Chất lượng thực thi pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước được nâng cao. Năng lực, trình độ, ý thức, trách nhiệm của đại bộ phận cán bộ, công chức, viên chức có những chuyển biến tích cực.

Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội có nhiều đổi mới, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội có chuyển biến tích cực trên các mặt hoạt động; thực hiện có hiệu quả cuộc vận động Vĩnh Phúc chung tay xây dựng nông thôn mới; giúp nhau phát triển kinh tế, giảm nghèo, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, xây dựng nhà đại đoàn kết; quyền làm chủ của nhân dân được tôn trọng; đoàn kết các dân tộc, giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo được phát huy, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng thêm vững chắc.

Mặt trận Tổ quốc các cấp không ngừng củng cố tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tổ chức nhiều phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn, các đợt sinh hoạt chính trị, tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân. Tích cực tham gia đóng góp ý kiến vào các văn kiện của Đảng, Nhà nước và nhiều văn bản pháp luật quan trọng khác. Thực hiện tốt việc hiệp thương, tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Chủ trì tổ chức các cuộc giám sát, phản biện xã hội, phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh.

Liên đoàn Lao động, công đoàn các cấp đã triển khai nhiệm vụ trọng tâm là đại diện, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; làm tốt công tác tham gia quản lý, xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp; trực tiếp tham gia giải quyết những nhu cầu chính đáng, bức xúc của công nhân.

Hội Nông dân các cấp đổi mới phương thức hoạt động theo hướng kết hợp chặt chẽ công tác tập hợp, tuyên truyền, vận động hội viên với triển khai các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất.

Đoàn Thanh niên phát huy vai trò xung kích, tình nguyện, sáng tạo; triển khai có hiệu quả các phong trào thi đua, các cuộc vận động lớn; giúp thanh niên vay vốn phát triển kinh tế; tư vấn hướng nghiệp dạy nghề; tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên.

Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp luôn giữ vững vai trò nòng cốt trong các phong trào thi đua, nhất l“Phong trào phụ nữ tích cực học tập, lao động, sáng tạo xây dựng gia đình hạnh phúc”; tuyên truyền giáo dục, phẩm chất đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”, tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện pháp luật, chính sách về bình đẳng giới.

Hội Cựu chiến binh các cấp luôn phát huy bản chất truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, chính quyền; giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ.

Hoạt động của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hội nghề nghiệp thực hiện theo đúng quy định; đã tích cực động viên các hội viên hăng hái thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và điều lệ hội.

5- Công tác xây dựng Đảng được tăng cường; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và chất lượng đảng viên được nâng lên

Quán triệt quan điểm xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, trong nhiệm kỳ qua, toàn Đảng bộ tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng gắn với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng được đảm bảo và giữ vững; kỷ cương, kỷ luật được thực hiện nghiêm; khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ được tăng cường; vai trò lãnh đạo của Đảng bộ được nâng lên, củng cố niềm tin trong Đảng và nhân dân.

Công tác chính trị, tư tưởng được coi trọng và tăng cường. Công tác giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên được chú trọng. Việc nghiên cứu, quán triệt và xây dựng chương trình hành động thực hiện các nghị quyết của Trung ương, của tỉnh được triển khai kịp thời, sát thực tiễn. Việc tổ chức sơ kết, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết của Đảng được tiến hành nghiêm túc, đúng kế hoạch và đạt hiệu quả cao, trong nhiệm kỳ đã tiến hành sơ kết, tổng kết 98 nghị quyết, chỉ thị, qua đó đã kịp thời rút kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, đặc biệt Tỉnh ủy đã tổ chức tổng kết chuyên đề 30 năm đổi mới ở Vĩnh Phúc. Công tác thông tin, tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị được quan tâm chỉ đạo, có nhiều đổi mới về nội dung và hình thức, tuyên truyền đúng định hướng, phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị. Nắm chắc tình hình tư tưởng cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân và dư luận xã hội; tăng cường giáo dục lý luận gắn với thực tiễn, đẩy mạnh giáo dục truyền thống cách mạng, lòng tự hào về dân tộc, về Đảng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ. Thường xuyên nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, tích cực đấu tranh với hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Công tác tổ chức xây dựng Đảng có nhiều đổi mới, được triển khai tích cực, hiệu quả. Trong nhiệm kỳ, đã thành lập 01 đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy và 43 tổ chức cơ sở đảng mới; kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy và rà soát, sắp xếp lại bộ máy của một số tổ chức chính trị - xã hội theo hướng tinh gọn. Thành lập Ban Nội chính Tỉnh ủy theo đúng hướng dẫn của Trung ương; tiến hành bố trí, sắp xếp lại các tổ chức đảng trong các loại hình doanh nghiệp. Tiến hành tổng kết mô hình thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, phường và chủ trương bí thư kiêm chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp theo đúng quy định của Trung ương.

Thực hiện có hiệu quả việc duy trì, nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ. Công tác kiểm điểm tự phê bình và phê bình, đánh giá phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên hàng năm được thực hiện nền nếp. Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh bình quân đạt 78,25%/năm; tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ bình quân đạt 74,44%/năm, vượt mục tiêu Đại hội (MTĐH 65-70%). Tỉnh ủy đã ban hành nghị quyết chuyên đề và đề án về nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên; chấn chỉnh những tổ chức đảng yếu kém hoặc nhiều năm liền không đạt trong sạch vững mạnh. Công tác phát triển đảng viên được chú trọng, nhất là đối tượng nữ, người dân tộc thiểu số, quần chúng ở nông thôn, doanh nghiệp. Hoàn thành xóa các thôn, làng, tổ dân phố trắng tổ chức đảng, đảng viên. Trung bình mỗi năm kết nạp được 2.415 đảng viên, vượt mục tiêu Đại hội (MTĐH 2.000-2.100). Triển khai thực hiện thí điểm kết nạp những người là chủ doanh nghiệp tư nhân đủ điều kiện, tiêu chuẩn vào Đảng.

Công tác cán bộ được thực hiện đúng, bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy. Tỉnh ủy đã xây dựng, ban hành, bổ sung, sửa đổi nhiều quy định, quyết định về công tác cán bộ phù hợp với thực tiễn. Công tác quy hoạch cán bộ được thực hiện theo phương châm “động” và “mở”, tạo thế chủ động trong công tác cán bộ. Các khâu tuyển chọn, đánh giá, bố trí sử dụng cán bộ được thực hiện tốt. Công tác điều động, luân chuyển cán bộ; bố trí cán bộ chủ chốt không phải là người địa phương được coi trọng. Thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ của tỉnh đảm bảo chất lượng, hiệu quả. Tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý đảm bảo đúng yêu cầu, quy định. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ thường xuyên được quan tâm. Các chế độ, chính sách đối với cán bộ được thực hiện đúng quy định.

Công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng được chú trọng. Tỉnh ủy đã sớm cụ thể hóa và triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, quy định, quy chế của Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng. Các cấp ủy đảng đã thường xuyên quan tâm thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, đồng thời tạo điều kiện tốt cho ủy ban kiểm tra cấp mình thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng, trong đó đã tập trung kiểm tra, giám sát những lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm dễ xảy ra tiêu cực. Phương pháp kiểm tra được đổi mới, tập trung đánh giá sâu về hiệu quả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết của Tỉnh ủy. Trong kiểm tra, giám sát, đã tuân thủ và thực hiện đúng nguyên tắc, thủ tục, quy trình, quy định và coi trọng việc nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc kiểm tra, giám sát. Chỉ đạo giải quyết kịp thời, dứt điểm đơn thư khiếu nại, tố cáo và những vấn đề phức tạp nảy sinh ở cơ sở; xem xét, xử lý kỷ luật nghiêm minh, đúng quy định đối với các tổ chức đảng và đảng viên có sai phạm. Quan tâm kiện toàn tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đảm bảo về số lượng, nâng cao về chất lượng; thực hiện cơ chế hỗ trợ cho phó chủ nhiệm UBKT cấp xã có từ 300 đảng viên trở lên.

Thông qua công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát đã có tác dụng và hiệu quả rõ rệt trong việc cảnh báo, phòng ngừa sai phạm, tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao trách nhiệm của các tổ chức Đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy và người đứng đầu các cơ quan nhà nước trong công tác kiểm tra, giám sát; góp phần quan trọng giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng.

Công tác dân vận có nhiều đổi mới, khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng được củng cố, tăng cường. Tổ chức hệ thống dân vận các cấp trong tỉnh được quan tâm kiện toàn; nội dung và phương thức hoạt động của công tác dân vận theo hướng gần dân, sâu sát cơ sở. Các cấp ủy đảng đã lãnh đạo thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết, quyết định, kết luận... của Trung ương Đảng và của Tỉnh ủy về công tác dân vận, công tác dân tộc, tôn giáo; trọng tâm là Nghị quyết 25 của Trung ương Đảng khóa XI về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”. Việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị ngày càng được chú trọng. Các cấp, các ngành đã chủ động phối hợp nắm tình hình các tầng lớp nhân dân, kịp thời giải quyết những khó khăn bức xúc của người dân ngay từ cơ sở.

Công tác nội chính và phòng, chống tham nhũng được coi trọng. Ban Nội chính Tỉnh ủy sớm được thành lập và kiện toàn tổ chức, bộ máy, bước đầu hoạt động có hiệu quả. Đã tiến hành kiểm tra, giám sát việc thanh tra, kiểm tra, xử lý tin báo, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế, chức vụ tại các cơ quan nội chính của tỉnh và một số huyện, thành, thị ủy; cho ý kiến về đường lối xét xử một số vụ án xảy ra trên địa bàn theo đúng Chỉ thị 15 của Bộ Chính trị. Công tác chỉ đạo, phát hiện, điều tra, xử lý các vụ án tham nhũng được tăng cường.

Tập trung lãnh đạo thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 5 khóa XI về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và các văn bản pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng. Đã có chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động trong phòng, chống tham nhũng ở các cấp uỷ đảng, chính quyền, các tổ chức, cá nhân. Nhiều giải pháp phòng ngừa tham nhũng được triển khai thực hiện đồng bộ, có kết quả. Hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước ngày càng chặt chẽ; công khai, minh bạch hơn; những biểu hiện tham nhũng được ngăn ngừa kịp thời.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng gắn với thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị đạt kết quả bước đầu quan trọng

Quá trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” được Tỉnh uỷ chỉ đạo thận trọng, chặt chẽ, quyết liệt và rất cụ thể đối với tất cả các tổ chức đảng và các cơ quan, đơn vị. Công tác tuyên truyền, quán triệt thực hiện Nghị quyết được triển khai nghiêm túc, bài bản, khoa học. Đã chủ động làm tốt công tác chuẩn bị; việc tổ chức hội nghị kiểm điểm tự phê bình và phê bình thực sự nghiêm túc, chặt chẽ, dân chủ, đoàn kết và cầu thị, đạt mục đích, yêu cầu đề ra. Qua kiểm điểm, các cấp ủy đảng, chính quyền, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị thấy rõ hơn trách nhiệm đối với những hạn chế, yếu kém ở cơ quan, đơn vị mình, từ đó tìm nguyên nhân, đề ra kế hoạch để khắc phục có hiệu quả. Các nội dung cần làm ngay sau kiểm điểm đã được triển khai tích cực, cơ bản đã khắc phục được hạn chế, yếu kém trước đây. Điểm nổi bật là Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã ban hành Chỉ thị số 11 về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, tổ chức các ngày kỷ niệm, không uống rượu, bia trong ngày làm việc và không hút thuốc lá nơi công sở. Chỉ thị được cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đồng tình, ủng hộ và thực hiện khá nghiêm túc, được dư luận nhân dân đánh giá cao.

Giải pháp về công tác tổ chức, cán bộ và sinh hoạt đảng có nhiều đổi mới. Trên cơ sở hệ thống các văn bản, chính sách đã ban hành, các khâu trong công tác cán bộ được thực hiện nghiêm túc; các chế độ của cán bộ được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Cùng với việc thực hiện tốt nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ, Tỉnh ủy đã chỉ đạo, lãnh đạo xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiều cơ chế, chính sách trong quản lý, điều hành như cơ cấu lại đầu tư công; phân cấp đầu tư xây dựng cơ bản; quản lý tài nguyên, khoáng sản; quản lý ngân sách nhà nước; đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính. Các quy định về nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cấp, các ngành, của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực hiện công vụ; về vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị được triển khai thực hiện, đem lại hiệu quả bước đầu.

Việc thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được các cấp ủy đảng từ tỉnh đến cơ sở triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả gắn với việc sửa chữa, khắc phục những hạn chế, yếu kém theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và quy định về những điều đảng viên không được làm. Hầu hết cán bộ, đảng viên tích cực học tập, nỗ lực làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống bằng những việc làm cụ thể, thiết thực. Định kỳ hàng năm kiểm điểm nội dung đăng ký rèn luyện theo chỉ đạo của Bộ Chính trị và Ban Chỉ đạo Trung ương. Trong quá trình thực hiện, đã xuất hiện ngày càng nhiều tấm gương cần, kiệm, liêm, chính trong Đảng và trong xã hội, góp phần ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Sau gần 4 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng gắn với việc thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng, siết lại kỷ luật, kỷ cương, có tác dụng cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn các hành vi tiêu cực. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức nâng cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn đạo đức, lối sống. Tình trạng suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên từng bước được đẩy lùi; củng cố niềm tin trong Đảng và nhân dân.

II. HẠN CHẾ, YẾU KÉM VÀ NGUYÊN NHÂN

1- Những hạn chế, yếu kém

Về phát triển kinh tế

Tăng trưởng kinh tế sau một thời gian duy trì ở mức cao trong giai đoạn trước, đang có xu hướng chững lại. Nền kinh tế chủ yếu phát triển theo chiều rộng, chưa chú trọng chiều sâu; chưa ổn định và thiếu bền vững. Nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội không đạt và đạt thấp so với mục tiêu Đại hội Đảng bộ lần thứ XV đề ra.

Chưa thu hút được các dự án công nghiệp có khả năng tạo ra tăng trưởng và thu ngân sách cao nhằm bù đắp cho một số ít sản phẩm chủ lực vốn đã đạt công suất thiết kế và gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm. Các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ còn thiếu và yếu. Kết cấu hạ tầng trong các khu công nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu. Một số làng nghề chậm phát triển.

Một số ngành dịch vụ phát triển chậm, chưa tương xứng với tiềm năng. Tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của tỉnh thấp hơn mức bình quân chung cả nước và một số tỉnh, thành trong vùng. Du lịch chưa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, sản phẩm du lịch đơn điệu, thiếu hấp dẫn du khách; hạ tầng du lịch và chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu.

Sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, chưa có sản lượng hàng hóa lớn, thương hiệu trên thị trường; việc liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp còn hạn chế; khả năng cạnh tranh của một số sản phẩm nông nghiệp còn thấp; vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm còn là nỗi lo của người tiêu dùng.

Năng lực cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp trong tỉnh, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa còn yếu. Số doanh nghiệp dân doanh tạm dừng hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm tỷ lệ cao. Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp chưa đổi mới, còn nhiều yếu kém, hoạt động thiếu hiệu quả.

Đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ; một số công trình, dự án đầu tư chậm tiến độ; chất lượng một số công trình chưa cao; nợ đọng trong xây dựng cơ bản còn lớn; số công trình hoàn thành chậm quyết toán còn nhiều.

Quản lý đô thị còn nhiều bất cập. Hạ tầng đô thị còn thiếu và chưa đồng bộ. Tình trạng khai thác đất san lấp, đá, cát sỏi và sản xuất vật liệu xây dựng thủ công có thời điểm diễn ra khá phức tạp; những vi phạm trước đây về lấn chiếm, sử dụng đất sai mục đích chậm được xử lý, khắc phục. Bồi thường, giải phóng mặt bằng ở nhiều công trình, dự án tiếp tục gặp khó khăn.

Về văn hóa, xã hội

Cơ sở vật chất và việc đầu tư xây dựng mạng lưới các trường học ở một số nơi còn chưa hợp lý, thừa ở bậc THCS và THPT, thiếu ở bậc mầm non làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả khai thác sử dụng. Chất lượng dạy và học ngoại ngữ, tin học chưa cao. Công tác quản lý ở một số trường còn bất cập. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển.

Cở sở vật chất, trang thiết bị, năng lực, chất lượng khám chữa bệnh còn hạn chế so với yêu cầu. Thiếu các cơ sở dịch vụ khám chữa bệnh có chất lượng cao, công nghệ hiện đại. Công tác xã hội hóa trong khám, chữa bệnh cho nhân dân còn chậm, còn thiếu các bệnh viện chuyên ngành; tình trạng quá tải ở một số bệnh viện tuyến tỉnh chậm được khắc phục.

Thực hiện nếp sống văn hóa, văn minh ở một số nơi chưa tốt, còn lãng phí, tốn kém. Xây dựng thiết chế văn hóa cấp huyện, cấp xã chưa đồng bộ; một số thiết chế văn hóa – thể thao, nhất là ở các thôn chưa được khai thác hiệu quả. Thể thao thành tích cao chưa tương xứng với vị thế của tỉnh. Ô nhiễm môi trường chưa được giải quyết triệt để. Việc xây dựng các công trình xử lý chất thải rắn, nhà tang lễ, nghĩa trang còn nhiều khó khăn.

Đời sống của một bộ phận nhân dân còn khó khăn. Tình trạng thừa lao động, thiếu việc làm có thu nhập ổn định khá phổ biến, nhất là ở nông thôn; công tác giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững hiệu quả chưa cao.

Về quốc phòng, an ninh, cải cách tư pháp

Còn một số cán bộ, đảng viên, một số cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chưa nhận thức sâu sắc về âm mưu “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, chưa nắm bắt đầy đủ chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng về quốc phòng - an ninh trong tình hình mới.

Công tác nắm, dự báo, phân tích, tham mưu xử lý tình hình phức tạp ở cơ sở có lúc, có nơi chưa sâu, chưa kịp thời. Tội phạm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông tuy được kiềm chế nhưng vẫn là vấn đề bức xúc trong xã hội. Chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử có vụ án chưa cao; việc thực hiện tranh tụng trong xét xử theo tinh thần cải cách tư pháp còn hạn chế.

Về xây dựng chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội

Chính quyền ở một số nơi hoạt động chưa hiệu quả, kỷ cương, kỷ luật hành chính chưa nghiêm. Cải cách hành chính tuy được đẩy mạnh nhưng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Chất lượng thực thi công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức chưa tốt, tác phong, thái độ, kỹ năng làm việc thiếu chuyên nghiệp. Một số cơ chế, chính sách đã ban hành nhưng chậm đi vào cuộc sống; thiếu nguồn lực để thực hiện; một số chính sách còn bất cập nhưng chậm được điều chỉnh. Hệ thống các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp chưa thật sự tinh gọn; hiệu quả chưa cao.

Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở một số nơi còn hành chính hóa, chất lượng, hiệu quả thấp; việc triển khai các phong trào thi đua chưa đồng đều, rộng khắp, chất lượng phong trào chưa cao. Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở có nơi còn hình thức. Hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội còn hình thức, chưa đáp ứng nhiệm vụ chính trị hiện nay.

Về công tác xây dựng Đảng

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức ở một số nơi có lúc chưa được chú trọng, thiếu tính chiến đấu và sức thuyết phục; chất lượng, hiệu quả việc quán triệt, học tập nghị quyết, chỉ thị của Đảng ở một số cấp ủy chưa cao, còn hình thức; việc nắm bắt, định hướng dư luận xã hội có việc chưa kịp thời. Công tác tuyên truyền còn hạn chế, hiệu quả chưa cao.

Chất lượng sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ còn hạn chế, nội dung hình thức sinh hoạt nghèo nàn, khô cứng, sinh hoạt theo chuyên đề còn ít. Tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng chưa cao. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế; chưa đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh ở cơ sở. Việc đổi mới các khâu trong công tác cán bộ chưa có nhiều đột phá; vẫn còn một số hạn chế trong đánh giá, nhận xét, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ. Tạo nguồn kết nạp đảng viên ở một số chi, đảng bộ ở khu vực nông thôn và khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn khó khăn.

Nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát ở một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa đầy đủ. Một số khuyết điểm, sai phạm của tổ chức đảng và đảng viên chậm được phát hiện và khắc phục. Chất lượng, hiệu quả của một số cuộc giám sát, kiểm tra còn thấp. Việc giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng, giải quyết tố cáo một số vụ việc còn chậm so với thời gian quy định. Công tác đôn đốc, chỉ đạo thực hiện các thông báo kết luận sau các cuộc kiểm tra, giám sát chưa được chú trọng.

Hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến về phòng, chống tham nhũng ở một số địa phương, đơn vị chưa cao; còn để xảy ra tham nhũng, tiêu cực. Số vụ việc tham nhũng phát hiện qua thanh tra, kiểm tra còn ít. Việc xử lý cán bộ, thu hồi tài sản sau thanh tra, kiểm tra còn chưa nghiêm minh, chưa kịp thời.

2- Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém

Nguyên nhân khách quan

Kinh tế của tỉnh ngày càng hội nhập sâu, rộng với thế giới, độ mở ngày càng lớn, trong khi khủng hoảng, suy thoái kinh tế diễn ra với quy mô rộng trên toàn thế giới và những yếu kém nội tại của đất nước bộc lộ rõ hơn; lạm phát có thời điểm tăng cao, kinh tế vĩ mô không ổn định, tổng cầu xã hội giảm, sức mua kém... Tình hình chính trị của khu vực và một số nơi trên thế giới bất ổn, đã ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội của tỉnh.

Giai đoạn 2011-2015, Đảng và Chính phủ tập trung thực hiện các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô trong đó thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, cắt giảm đầu tư công, tiết kiệm chi thường xuyên... do vậy nguồn lực cho đầu tư bị hạn chế, sản xuất bị thu hẹp, tăng trưởng tín dụng giảm sâu.

Các sản phẩm có đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế như ô tô, xe máy gặp khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ; thiên tai (động đất, sóng thần) xảy ra tại Nhật Bản và Thái Lan tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất ô tô, xe máy. Một số dự án của doanh nghiệp lớn (Compal, Hồng Hải) đã cấp phép đầu tư nhưng triển khai thực hiện không như đăng ký.

Vị trí địa lý là nhân tố, lợi thế chủ yếu để thu hút vốn đầu tư trong giai đoạn trước đang giảm dần do sự cạnh tranh của các địa phương lân cận khi hệ thống giao thông quốc gia được hoàn thiện.

Nguyên nhân chủ quan

Một số cơ chế, chính sách của tỉnh sau quá trình thực hiện đã bộc lộ những hạn chế, vướng mắc nhưng chưa được điều chỉnh, bổ sung kịp thời gây ra những khó khăn cho quá trình tổ chức thực hiện. Chi phí thuê đất và hạ tầng trong các khu công nghiệp của tỉnh còn ở mức cao so với các tỉnh lân cận. Huy động nguồn lực xã hội hóa cho đầu tư ở một số ngành, lĩnh vực đạt kết quả thấp. Bồi thường, giải phóng mặt bằng ở một số nơi vẫn gặp nhiều khó khăn, ách tắc.

Công tác chỉ đạo, điều hành của một số cấp ủy đảng, chính quyền còn chưa quyết liệt. Người đứng đầu, đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở một số nơi, nhất là ở cơ sở chưa thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của mình nên hiệu quả công tác chưa cao. Công tác tham mưu, đề xuất của một số ngành, đơn vị chưa hiệu quả. Công tác thống kê, phân tích, dự báo tình hình chưa sát với thực tế, chưa lường hết được các khó khăn tiềm ẩn. Sự phân công, phân cấp, phân quyền có mặt còn hạn chế. Phối hợp hoạt động giữa các cơ quan, địa phương trong hệ thống chính trị có việc, có lúc còn lúng túng; thiếu đồng bộ, chặt chẽ; hiệu quả thấp. Công tác cải cách hành chính có nhiều cố gắng nhưng chưa đáp ứng được kỳ vọng của doanh nghiệp, người dân.

Một số cán bộ, đảng viên chưa thực sự sâu sát cơ sở nên nắm bắt tình hình chưa kịp thời và chưa chủ động giải quyết vướng mắc ngay từ cơ sở. Tính chiến đấu, tính tiền phong gương mẫu của một bộ phận cán bộ, đảng viên còn thấp; trình độ, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu, tinh thần trách nhiệm chưa cao; còn có hành vi tiêu cực, gây phiền hà, nhũng nhiễu. Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra của chính quyền và giám sát của Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân đối với hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị ở một số nơi chưa thường xuyên, sâu sát.

Đội ngũ doanh nhân của tỉnh còn yếu, kể cả năng lực quản lý, quản trị, dự báo thị trường, tổ chức sản xuất, kinh doanh. Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa đầy đủ, còn tư tưởng trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Ý thức giữ gìn môi trường, nhất là ở khu vực nông thôn còn thấp.

III. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1- Đánh giá tổng quát

Nhiệm kỳ qua, mặc dù có rất nhiều khó khăn, thách thức, song kinh tế của tỉnh tiếp tục phát triển. Hình thành được một số vùng trồng trọt sản xuất hàng hóa tập trung, đem lại hiệu quả kinh tế cao; chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp. Sản xuất công nghiệp tiếp tục khẳng định là nền tảng của nền kinh tế. Các ngành dịch vụ phát triển, dịch vụ du lịch có nhiều khởi sắc. Thu ngân sách nhà nước đạt kết quả cao. Hoạt động đối ngoại, xúc tiến đầu tư có nhiều đổi mới về phương thức, nội dung; thu hút đầu tư đạt kết quả tốt. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước được xây dựng theo hướng hiện đại. Công tác cải cách hành chính đạt kết quả tích cực. Các lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ. An sinh xã hội được đảm bảo; thu nhập và đời sống của nhân dân được cải thiện, nâng lên. Quốc phòng - an ninh được giữ vững; chính trị, xã hội ổn định. Hệ thống chính trị tiếp tục được củng cố, ngày càng trong sạch, vững mạnh. Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân được phát huy. Công tác xây dựng Đảng được quan tâm trên cả 3 mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức. Kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng đạt được những kết quả bước đầu quan trọng. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được triển khai rộng khắp. Đảng bộ đoàn kết, sáng tạo, nhân dân đồng thuận, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

Bên cạnh những kết quả đạt được, còn có những hạn chế, đó là: Nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội đạt thấp so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đề ra. Tốc độ tăng trưởng kinh tế có chiều hướng chậm lại; tính ổn định, bền vững chưa cao. Nhiều tiềm năng, thế mạnh chưa được khai thác hiệu quả. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn hạn chế. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển. Năng suất lao động ở một số ngành nghề thấp; tình trạng thừa lao động, thiếu việc làm còn phổ biến, nhất là ở nông thôn. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn yếu. Năng lực, trình độ, trách nhiệm một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa đáp ứng yêu cầu. Một số vấn đề xã hội bức xúc phát sinh trong quá trình phát triển chậm được giải quyết từ cơ sở.

2- Bài học kinh nghiệm

Một là, Nắm vững và thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nghiên cứu vận dụng sáng tạo vào thực tiễn của tỉnh; mạnh dạn, quyết liệt và có đột phá trong từng thời điểm trên các lĩnh vực; thực hiện nhất quán quan điểm phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.

Hai là, Thường xuyên xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, không ngừng củng cố, xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ; phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng mối quan hệ mật thiết, gắn bó giữa Đảng với nhân dân; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức có phẩm chất chính trị, năng lực, tinh thần trách nhiệm cao, có đạo đức, lối sống lành mạnh; trong đó, tính tiên phong, gương mẫu, sâu sát, quyết tâm cao của đội ngũ cán bộ chủ chốt là nhân tố quyết định.

Ba là, Trong xây dựng và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách phải lấy con người là trung tâm của sự phát triển; khơi dậy, phát huy truyền thống và phẩm chất con người Vĩnh Phúc, đó là tính năng động, sáng tạo, vượt lên trong khó khăn. Phát hiện được những sáng tạo của quần chúng, doanh nghiệp từ thực tiễn để tổng hợp, đề xuất thành những cơ chế, chính sách. Ban hành cơ chế, chính sách phải kết hợp hài hoà lợi ích của Nhà nước, người dân, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư. Thường xuyên tổng kết thực tiễn để kịp thời bổ sung, điều chỉnh các cơ chế, chính sách cho phù hợp.

Bốn là, Huy động, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực và nguồn lực tài chính; ưu tiên đầu tư cho mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược để tạo động lực đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời chú trọng giải quyết những nhiệm vụ cần thiết, cấp bách; giải quyết tốt các mối quan hệ giữa tăng trưởng nhanh và bền vững, giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, giữ gìn môi trường, bảo đảm an ninh, quốc phòng.

                                                                       Phần thứ hai

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

NHIỆM KỲ 2015-2020

Dự báo trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp. Tranh giành ảnh hưởng giữa các nước lớn và tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển đảo vẫn gay gắt, quyết liệt. Nền kinh tế thế giới phục hồi chậm và có nhiều biến động. Các vấn đề toàn cầu như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thời tiết, thiên tai, dịch bệnh diễn biến khó lường. Các thế lực thù địch tiếp tục tìm mọi cách chống phá Đảng, Nhà nước ta. Bên cạnh đó, mặt trái của nền kinh tế thị trường; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được ngăn chặn triệt để đang cản trở sự phát triển của tỉnh.

Hội nhập quốc tế là cơ hội nhưng cũng là thách thức lớn khi thực hiện các cam kết trong khuôn khổ các hiệp định đã và sẽ ký kết (AFTA, Việt - Mỹ, WTO, TPP..), tham gia Cộng đồng ASEAN. Việc thực hiện giảm thuế suất thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ khu vực ASEAN về Việt Nam từ 50 % năm 2015 theo lộ trình còn 0% vào năm 2018 làm cho ngành sản xuất ô tô trong nước gặp rất nhiều khó khăn, sẽ tác động không nhỏ đến phát triển kinh tế - xã hội và thu ngân sách của tỉnh.

Kế thừa và phát huy những thành tựu, kinh nghiệm sau gần 20 năm tái lập tỉnh, những kết quả đã đạt được trong nhiệm kỳ qua, cùng với những tiềm năng, thế mạnh của tỉnh về vị trí địa lý, kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư, khuyến khích nội lực, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ, sự đồng thuận trong nhân dân; sự ổn định về chính trị, xã hội tiếp tục là điều kiện, là động lực cho sự phát triển của tỉnh.

Tình hình thế giới, khu vực, trong nước và của tỉnh tạo ra cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, tác động đến tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh trong thời gian tới. Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, đòi hỏi toàn Đảng bộ, hệ thống chính trị và nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phải quyết tâm hơn nữa, năng động sáng tạo và hành động quyết liệt hơn nữa. Tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đề ra, đưa Vĩnh Phúc phát triển nhanh, bền vững.

A. MỤC TIÊU

I. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT

Tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển nhanh và bền vững. Nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng kết hợp hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu. Phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn 5 năm trước, xây dựng Vĩnh Phúc trở thành một trong những trung tâm công nghiệp, du lịch của Vùng và cả nước; tập trung tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với chuyển đổi lao động nông thôn; sớm hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới; kiểm soát và hạn chế ô nhiễm môi trường. Bảo đảm sự gắn kết giữa phát triển kinh tế với thực hiện an sinh xã hội; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tăng cường quốc phòng, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng cán bộ, đảng viên; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp; tiếp tục đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, các doanh nghiệp và cộng đồng nhân dân cho sự nghiệp phát triển. Phấn đấu đến năm 2020, cơ bản hoàn thành hạ tầng khung đô thị tiến tới trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ XXI.

II. MỘT SỐ CHỈ TIÊU CỤ THỂ

1- Các chỉ tiêu kinh tế

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 7 – 7,5%/năm. Trong đó, công nghiệp – xây dựng tăng 7,0-7,5%/năm, dịch vụ tăng 10,5-11,0%/năm, nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 3,5- 4,0%/năm, thuế sản phẩm tăng khoảng 3,5%/năm.

- Cơ cấu kinh tế đến năm 2020: Công nghiệp – xây dựng 61,5%, dịch vụ 31,4%, nông, lâm nghiệp, thủy sản 7,1%.

- Quy mô GRDP đến 2020 bằng 1,5 - 2 lần so với năm 2015.

- Vốn đầu tư toàn xã hội hằng năm chiếm khoảng 25-30% GRDP.

- Tỷ lệ thu ngân sách nhà nước trên GRDP hằng năm đạt 22-23%, năm 2020 thu ngân sách nhà nước khoảng 26.500-27.000 tỷ đồng.

- GRDP bình quân đầu người đến năm 2020 đạt 110 triệu đồng, tương đương khoảng 4.800 - 5.000 USD.

- Thu hút mới 1,3 – 1,5 tỷ USD vốn đăng ký từ các dự án FDI và 14.000 – 15.000 tỷ đồng vốn đăng ký từ các dự án DDI.

2- Các chỉ tiêu văn hoá - xã hội

- Quy mô dân số đến năm 2020 đạt 1,117 triệu người.

- Giải quyết việc làm bình quân đạt 19 – 20 nghìn lao động/năm.

- Tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm bình quân giảm 1,0 – 1,5%/năm (theo chuẩn mới giai đoạn 2016-2020).

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2020 đạt 76%, trong đó lao động qua đào tạo được cấp chứng chỉ đạt 30-35%.

- Tỷ lệ lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản đến năm 2020 còn 30%.

- Đến năm 2020, 65- 70% học sinh tốt nghiệp THCS vào THPT, 30-35% học sinh tốt nghiệp THCS vào học bổ túc văn hoá và học nghề.

- 100% các trường đạt chuẩn Quốc gia trước năm 2020, trong đó bậc mầm non và tiểu học trước năm 2018.

- Đến năm 2020: 9,3 bác sĩ/vạn dân, 32 giường bệnh/vạn dân.

- Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi đến năm 2020 còn dưới 9%.

- Tỷ lệ thôn, làng văn hóa hằng năm đạt từ 75% - 80%; tỷ lệ gia đình văn hóa hằng năm đạt từ 85% - 90%.

- Tỷ lệ dân cư đô thị đến năm 2020 đạt trên 45%.

- Phấn đấu tỉnh đạt chuẩn xây dựng nông thôn mới vào năm 2017.

3- Các chỉ tiêu về môi trường đến năm 2020

- Thu gom và xử lý đạt quy chuẩn môi trường 95% chất thải rắn sinh hoạt khu vực đô thị; 75% chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn.

- 100% chất thải nguy hại và chất thải y tế được xử lý.

- 90% dân số đô thị loại IV trở lên được cấp nước sạch.

- Tỷ lệ dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 90%.

4- Các chỉ tiêu xây dựng hệ thống chính trị

- Tỷ lệ chính quyền cơ sở vững mạnh bình quân hằng năm đạt 65% trở lên.

- Số đảng viên kết nạp bình quân hằng năm trên 2.300 đảng viên.

- Tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên hằng năm đạt 85%.

- Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên bình quân hằng năm đạt 95%.

B. NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

I. VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1- Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng tăng trưởng; phát triển nhanh, bền vững; tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng

Phát triển mạnh sản xuất công nghiệp để công nghiệp thật sự trở thành động lực cho sự phát triển của tỉnh. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sản xuất các sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh như sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy, dệt may, da giày; đưa ô tô, xe máy trở thành ngành công nghiệp chủ đạo của tỉnh. Phát triển nhóm ngành công nghiệp hỗ trợ phục vụ cho các ngành công nghiệp chủ lực và ngành sản xuất, lắp ráp điện tử. Từng bước phát triển sản xuất các sản phẩm công nghiệp công nghệ cao như điện tử gia dụng (điện thoại, máy điều hoà không khí, ti vi, tủ lạnh, máy giặt,…). Phát triển công nghệ thông tin, chủ yếu tập trung vào sản xuất lắp ráp các thiết bị tin học, sản xuất phần mềm. Duy trì sản xuất sản phẩm có thế mạnh là các loại gạch ceramic, gạch ốp lát. Khuyến khích, hỗ trợ phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn; công nghiệp sản xuất các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu có chất lượng cao, chiếm thị phần lớn trên thị trường.

Tập trung đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng (giao thông, điện, cấp, thoát nước, viễn thông...), đặc biệt là hạ tầng kỹ thuật các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tạo cơ sở cho phát triển công nghiệp. Thu hút đầu tư có chọn lọc theo hướng ưu tiên các dự án kỹ thuật cao, thân thiện môi trường, tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, sản phẩm xuất khẩu; đồng thời khuyến khích các dự án sử dụng nhiều lao động.

Tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trực tiếp sản xuất có trình độ tay nghề phù hợp, ưu tiên phát triển đội ngũ lao động có trình độ cao. Mở rộng hợp tác đào tạo lao động. Chú trọng phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề nông thôn.

Tập trung phát triển các ngành dịch vụ, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Tỉnh ủy khóa XV về phát triển dịch vụ, du lịch đến năm 2020, trong đó chú trọng xây dựng, triển khai các cơ chế, chính sách của tỉnh và đầu tư hạ tầng về phát triển dịch vụ, du lịch.

Tiếp tục đầu tư, quản lý và khai thác có hiệu quả khu danh thắng Tây Thiên, Đại Lải, Tam Đảo, các công trình văn hoá, phúc lợi kết hợp với hoạt động du lịch. Từng bước quy hoạch và kêu gọi đầu tư xây dựng Khu Tam Đảo 2, Đầm Vạc, Khu Sáu Vó, các dự án du lịch, nghỉ dưỡng dọc dãy núi Tam Đảo. Khuyến khích xây dựng các khu vui chơi, giải trí lớn, hiện đại. Hình thành một số tuyến du lịch trọng tâm; nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch.

Đẩy mạnh phát triển mạng lưới bảo quản, lưu trữ, phân phối, lưu thông hàng hóa rộng khắp, thuận tiện; phát huy vai trò của ngành dịch vụ thương mại để hình thành chuỗi sản xuất một số sản phẩm hàng hóa có lợi thế; tiếp tục khuyến khích hình thành các trung tâm thương mại – dịch vụ lớn, hiện đại tại các trung tâm kinh tế - xã hội của tỉnh; khuyến khích xã hội hóa các chợ hạng 1, hạng 2; cải tạo, xây dựng và phát triển các chợ truyền thống; chợ đầu mối nông sản. Khuyến khích các hoạt động giao dịch thương mại điện tử; quảng bá, xúc tiến thương mại.

Phát triển các dịch vụ vận tải, bến bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải. Tập trung đầu tư khai thác hai loại hình vận tải đường bộ và đường sắt, đồng thời đầu tư phát triển vận tải đường thủy trên các sông. Khuyến khích đầu tư phát triển hệ thống kho bãi phục vụ cho trung chuyển hàng hóa và phát triển dịch vụ logistic. Củng cố và phát triển hệ thống vận tải xe du lịch, taxi; khai thác ổn định và mở rộng các tuyến xe buýt trên địa bàn tỉnh kết nối với các tỉnh lân cận.

Phát triển dịch vụ giáo dục đào tạo trên cơ sở đầu tư, vận động, thu hút xây dựng Khu đô thị đại học. Khuyến khích, tuyên truyền, vận động các trường đại học, dạy nghề, cơ sở giáo dục trong nước và quốc tế về đầu tư tại tỉnh. Đẩy mạnh xã hội hóa trong xây dựng hệ thống bệnh viện, đầu tư trang thiết bị hiện đại phục vụ khám chữa bệnh, nghỉ dưỡng; xây dựng Vĩnh Phúc thành trung tâm dịch vụ khám chữa bệnh, nghỉ dưỡng, điều dưỡng của cả vùng.

Tiếp tục phát triển dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin theo hướng hiện đại. Tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia phát triển các dịch vụ tài chính như: Bảo hiểm nhân thọ, tư vấn và cho thuê tài chính, bảo hiểm y tế, bảo hiểm nông nghiệp, bất động sản…

Kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng mở rộng hoạt động, tập trung vốn cho các lĩnh vực sản xuất, nhất là nông nghiệp, nông thôn, hàng xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ và công nghệ cao; tiếp tục thực hiện tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng.

Đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với chuyển đổi lao động nông thôn. Khuyến khích tập trung ruộng đất, dồn điền, đổi thửa để đưa cơ giới hóa vào sản xuất, tiến tới sản xuất hàng hóa tập trung. Phát triển nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và bền vững; khai thác giá trị kinh tế các sản phẩm có tính đặc thù của địa phương. Thực hiện chính sách giao đất ổn định lâu dài cho các trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp. Xây dựng và triển khai cơ chế, chính sách đầu tư trở lại cho nông nghiệp, nông thôn.

Tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới. Đẩy mạnh cơ giới hóa, nhất là trong công đoạn thu hoạch, bảo quản, chế biến đối với sản phẩm trồng trọt; ứng dụng công nghệ hiện đại trong chăn nuôi. Phát triển vật nuôi có thế mạnh của tỉnh, đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính, trong đó tập trung phát triển chăn nuôi ở địa bàn trung du, miền núi, vùng ven sông; giảm dần và tiến tới không chăn nuôi ở đô thị, ven đô thị và trong khu dân cư. Xây dựng tỉnh là trung tâm đầu mối nông sản của cả Vùng. Tập trung sản xuất rau quả hàng hóa ở các vùng đồng bằng, ven đô; mở rộng các vùng trồng trọt hàng hoá tập trung; đẩy mạnh áp dụng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao gắn với thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị sản phẩm trồng trọt; chuyển mạnh sang sản xuất nông sản sạch, vệ sinh an toàn thực phẩm theo chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu dùng.

Đầu t­ư nâng cấp và xây dựng mới hệ thống thủy lợi phục vụ đa mục tiêu theo quy hoạch chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc và quy hoạch ngành; nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai; giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu.

Đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào nông nghiệp, nhất là doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chế biến nông sản và sản xuất giống cây trồng, vật nuôi. Củng cố, kiện toàn và nâng cao năng lực của hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, bảo vệ thực vật, thú y. Tạo điều kiện cho các chủ trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp đư­ợc tiếp cận với các nguồn vốn vay ư­u đãi và tham gia các dự án phát triển kinh tế - xã hội.

Phát triển doanh nghiệp, đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh. Tổ chức triển khai có hiệu quả Nghị quyết của Tỉnh ủy khóa XV về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tiếp tục tạo môi trường thuận lợi cho phát triển doanh nghiệp dân doanh của tỉnh. Khuyến khích tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh trên các lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Tăng cường cung cấp thông tin, tư vấn, hướng dẫn, trợ giúp doanh nghiệp về các Hiệp định thương mại tự do đang thực hiện và sẽ ký kết trong thời gian tới. Thường xuyên tiến hành rà soát và đơn giản hoá các thủ tục hành chính, minh bạch hoá các quy định liên quan đến điều kiện kinh doanh, gia nhập thị trường của doanh nghiệp. Vận hành tốt cơ chế một cửa liên thông giữa các cơ quan công quyền trong việc thực hiện đăng ký thành lập doanh nghiệp.

Tiếp tục sắp xếp, đổi mới và cơ cấu lại doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước; triển khai thoái vốn nhà nước tại các công ty, doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ. Khuyến khích và huy động các nguồn lực xã hội để đầu tư vào sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động của đơn vị sự nghiệp. Hỗ trợ thành lập, hoạt động các tổ hợp tác, hợp tác xã theo Luật; nâng cao hiệu quả kinh tế hộ gia đình, trang trại.

Đẩy mạnh xúc tiến và thu hút đầu tư. Tiếp tục cải thiện chỉ số thành phần năng lực cạnh tranh của tỉnh, phấn đấu giai đoạn 2016-2020 duy trì thuộc nhóm địa phương có chất lượng điều hành “tốt” và “rất tốt”. Tạo môi trường pháp lý, điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh; tăng cường mối quan hệ thân thiện, hợp tác giữa nhà đầu tư và các cơ quan nhà nước. Tiếp tục tổ chức các đoàn đi xúc tiến, thu hút đầu tư tại các nước có nhiều tiềm năng; xây dựng danh mục các dự án kêu gọi đầu tư; tổng kết, đánh giá toàn diện tình hình thu hút đầu tư đối với các dự án DDI và FDI; xây dựng đề án về đánh giá lợi thế so sánh của tỉnh trong thu hút đầu tư. Tập trung thu hút các dự án đầu tư vào các khu công nghiệp hiện có; ưu tiên các dự án có quy mô lớn, công nghệ cao. Chủ động quỹ đất để xây dựng các khu công nghiệp mới theo yêu cầu của thị trường, phù hợp quy hoạch được duyệt. Từng bước thành lập mới và xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật các Khu công nghiệp Thăng Long Vĩnh Phúc, Tam Dương I, Sông Lô I và Lập Thạch I. Củng cố, kiện toàn bộ máy, đội ngũ cán bộ quản lý và tăng cường công tác vận động các dự án sử dụng nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi cho đầu tư phát triển.

2- Thực hiện tốt quy hoạch, kế hoạch; xây dựng kết cấu hạ tầng theo hướng đồng bộ, hiện đại

Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác quy hoạch, kế hoạch. Tiếp tục rà soát các loại quy hoạch đã được phê duyệt trên địa bàn nhằm điều chỉnh, bổ sung kịp thời, phù hợp với thực tế của tỉnh và quy hoạch phát triển Vùng. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy hoạch, nhất là quy hoạch chi tiết xây dựng theo quy hoạch chung đô thị Vĩnh Phúc đã được duyệt; chú trọng quy hoạch các khu công nghiệp và hệ thống sân Golf trên địa bàn tỉnh; đồng thời tăng cường công tác quản lý và thực hiện quy hoạch, kế hoạch.

Xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển, cơ bản hoàn thành hệ thống hạ tầng khung đô thị Vĩnh Phúc vào năm 2020. Tổ chức thực hiện có hiệu quả Luật Đầu tư công, Kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016 – 2020; làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư; bồi thường, giải phóng mặt bằng. Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý đầu tư, xây dựng cơ bản. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đầu tư kết cấu hạ tầng. Tiếp tục triển khai thực hiện các công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội trọng điểm, tạo cơ sở thúc đẩy sự phát triển ở mỗi địa phương, khu vực và toàn địa bàn tỉnh. Hỗ trợ đầu tư cho các vùng khó khăn, các xã nghèo, xã miền núi.

Tiếp tục đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp hệ thống đường vành đai, các trục hướng tâm và đường nội thị chính của đô thị Vĩnh Phúc. Tranh thủ sự hỗ trợ của các bộ, ngành Trung ương để cải tạo, nâng cấp các tuyến quốc lộ; đầu tư xây dựng mới một số tuyến đường phục vụ các khu công nghiệp, khu du lịch của tỉnh, kết nối giao thông giữa các vùng, khu vực của tỉnh; tiếp tục cải tạo, nâng cấp một số tuyến đường tỉnh, đường huyện. Khuyến khích và hỗ trợ xây dựng giao thông nông thôn và giao thông nội đồng.

Nâng cấp, mở rộng hệ thống cấp nước Vĩnh Yên lên công suất 67.000m3/ngày đêm; Phúc Yên lên công suất 40.000m3/ngày đêm. Từng bước đầu tư xây dựng mới các nhà máy nước Vĩnh Yên giai đoạn II, nhà máy cấp nước Liễn Sơn và nhà máy cấp nước Đức Bác. Xây dựng mạng lưới cấp nước toàn bộ lõi khung đô thị, đáp ứng đầy đủ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất. Xây dựng hệ thống xử lý nước thải tại lõi đô thị nhằm cơ bản cải thiện chất lượng vệ sinh môi trường sống; cải tạo Đầm Vạc, Đầm Sáu Vó; cải tạo luồng tiêu sông Phan, sông Cà Lồ và các trạm bơm tiêu cưỡng bức.

Xây dựng mới Trạm biến áp 220KV-250MVA tại Vĩnh Tường; cải thiện chất lượng cung cấp điện cho thành phố Vĩnh Yên và thị xã Phúc Yên. Số hoá hệ thống phát thanh, truyền hình trên địa bàn. Xây dựng mạng lưới viễn thông đạt mức tiên tiến so với các tỉnh. Phát triển mạng truy nhập theo hướng cáp quang hóa. Phấn đấu mật độ điện thoại trên địa bàn tỉnh đạt 80-83 thuê bao/100 dân, số thuê bao internet băng thông rộng đạt 9 -10 thuê bao/100 dân.

3- Tập trung phát triển đô thị, xây dựng nông thôn mới

Phát triển đô thị theo hướng bền vững, đặt nền móng để Vĩnh Phúc sớm trở thành thành phố. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch; quản lý quy hoạch, thiết kế đô thị. Đẩy mạnh xã hội hóa các nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị. Tập trung đầu tư chỉnh trang, nâng cấp các đô thị hiện có. Tiếp tục phát triển, hình thành các đô thị mới, thúc đẩy quá trình đô thị hóa theo quy hoạch. Tập trung hoàn thành quy hoạch các phân khu và quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị Vĩnh Phúc; chú trọng quy hoạch, sắp xếp hệ thống các công trình ngầm trong đô thị, trước hết là hệ thống điện, cấp thoát nước, viễn thông; khắc phục có hiệu quả sự chồng chéo, thiếu khoa học trong xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật tại đô thị. Khai thác có hiệu quả quỹ đất phát triển đô thị để tạo nguồn vốn đầu tư. Xác định rõ lộ trình ưu tiên đầu tư xây dựng trung và dài hạn, tạo bước đột phá về xây dựng hạ tầng khung đô thị Vĩnh Phúc. Nâng cấp để thành phố Vĩnh Yên cơ bản đủ tiêu chí đô thị loại I, hướng đến đô thị xanh; Phúc Yên đủ tiêu chí đô thị loại II, nâng cấp một số đô thị từ loại V lên loại IV. Tăng cường quản lý đô thị theo pháp luật và theo quy chế quản lý đô thị. Coi trọng xây dựng nếp sống văn minh đô thị. Khuyến khích phát triển các loại hình dịch vụ văn minh trong tổ chức sự kiện, dịch vụ đám cưới, dịch vụ tang lễ.

Đẩy mạnh thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, phấn đấu tỉnh đạt chuẩn xây dựng nông thôn mới vào năm 2017. Xây dựng nông thôn mới văn minh, giàu đẹp, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bảo vệ môi trường với phương châm: Nhân dân làm, Nhà nước hỗ trợ, huy động tối đa các nguồn lực của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp, cá nhân; khắc phục tư duy dự án trong xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Xác định rõ những việc Nhà nước tập trung đầu tư, những việc nhân dân tự bàn bạc, quyết định đóng góp xây dựng và quản lý, sử dụng. Tiếp tục đầu tư các nguồn lực để duy trì, nâng cao chất lượng các tiêu chí theo quy định của Chính phủ.

4- Tăng cường quản lý tài nguyên, nhất là tài nguyên đất

Quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên. Giải quyết có hiệu quả các vấn đề bức xúc và kiên quyết xử lý những vi phạm liên quan về đất đai, khoáng sản. Bảo vệ các nguồn nước, dòng chảy (sông, hồ, đầm...), nước ngầm, tài nguyên rừng. Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về đất đai, khắc phục lãng phí trong sử dụng đất. Khai thác tốt nguồn thu từ đất; xây dựng cơ chế điều hành linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thị trường nhà đất và việc thu hồi, giao, cho thuê, đấu giá, chuyển quyền sử dụng đất và chuyển đổi mục đích sử dụng đất; tạo chuyển biến lớn về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, nhất là trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân.

Hoàn thiện tổ chức bộ máy bồi thường, giải phóng mặt bằng và phát triển quỹ đất. Huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị làm tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, chủ động quỹ đất để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội. Tập trung giải phóng mặt bằng cho các khu công nghiệp, các công trình giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội, các dự án trọng điểm của tỉnh.

II. VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA – XÃ HỘI

1- Thực hiện tốt việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Tiếp tục quy hoạch, sắp xếp lại mạng lưới trường lớp; phát triển các loại hình giáo dục - đào tạo đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội. Quan tâm đầu tư hệ thống cơ sở vật chất đồng bộ, hiện đại cho các cấp học. Xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục có đủ trình độ năng lực, tâm huyết với nghề, có cơ cấu hợp lý đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục trong thời kỳ mới. Bảo đảm trật tự, kỷ cương, nền nếp trong dạy và học. Giữ vững và nâng cao chất lượng giáo dục đại trà và giáo dục mũi nhọn; làm chuyển biến một bước nền nếp, chất lượng dạy, học ngoại ngữ, tin học và năng lực thực hành cho học sinh. Phối hợp tốt giữa nhà trường với gia đình, các đoàn thể, tổ chức xã hội trong quản lý, giáo dục trẻ em; giáo dục truyền thống, lý tưởng, đạo đức, ý thức, trách nhiệm, kỹ năng sống cho học sinh trong trường học. Xây dựng các mô hình điển hình về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo ở các cấp học, ngành học. Đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo; mở rộng các hoạt động khuyến học, khuyến tài, đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời, hướng tới xã hội học tập.

Tiếp tục thực hiện tốt phân luồng trong giáo dục, nhất là phân luồng giáo dục sau Trung học cơ sở. Lấy đào tạo nghề, lao động kỹ thuật chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động trong nước và xuất khẩu là khâu đột phá trong chuyển dịch cơ cấu lao động. Có cơ chế, khuyến khích, hỗ trợ đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị các cơ sở đào tạo, trường nghề; đào tạo nghề theo địa chỉ. Tiếp tục quy hoạch, sắp xếp lại một cách hợp lý hệ thống các trường đào tạo nghề trên địa bàn. Có cơ chế chính sách thu hút nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao về làm việc, công tác tại tỉnh. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, công chức, nghệ nhân, đội ngũ truyền nghề của các cơ sở đào tạo nghề.

2- Phát triển mạng lưới y tế đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân, nâng cao chất lượng dân số của tỉnh

Nâng cao hơn nữa chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân. Triển khai các giải pháp tổng thể để giảm quá tải, tăng tự chủ và tạo lòng tin của người bệnh ở các bệnh viện; thiết lập lại năng lực quản lý nhà nước và quy chế chuyên môn trong khám bệnh, chữa bệnh; tham gia hiệu quả vào mạng lưới bệnh viện vệ tinh. Huy động, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đồng bộ, hiện đại cho ngành y tế. Đầu tư, hoàn thành xây dựng mới Bệnh viện đa khoa tỉnh (quy mô 1.000 giường); sớm xây dựng Bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên; Bệnh viện Sản - Nhi và các bệnh viện, trung tâm chuyên khoa. Khuyến khích đầu tư, xã hội hoá phát triển các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân tại cộng đồng, các dịch vụ y tế chất lượng cao.

Sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, mạng lưới y tế từ tỉnh đến cấp huyện, cấp xã theo hướng tinh gọn, giảm đầu mối. Coi trọng và có chính sách để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và ý thức phục vụ nhân dân cho đội ngũ y bác sĩ, cán bộ ngành y tế; thu hút, trọng dụng y, bác sỹ giỏi; tăng cường nhân lực y tế cho khu vực nông thôn, miền núi và một số chuyên khoa. Tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động y dược. Từng bước phấn đấu tự chủ trong quản lý tài chính, trang thiết bị khám chữa bệnh theo lộ trình.

Nâng cao chất lượng hoạt động y tế cộng đồng; y tế dự phòng; quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm; khống chế kịp thời các bệnh truyền nhiễm, các bệnh dịch thường gặp và bệnh dịch mới; quan tâm phòng chống các bệnh nghề nghiệp. Nâng cao chất lượng dân số, tăng cường lồng ghép thực hiện các mục tiêu dân số vào hoạch định chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế, thực hiện mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân.

3- Phát triển văn hoá thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững

Xây dựng và phát triển văn hoá gắn với xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" đi vào chiều sâu. Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, tiến bộ. Bảo vệ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Xây dựng đời sống văn hóa ở địa bàn dân cư, các cơ quan, đơn vị với tinh thần đoàn kết, dân chủ, văn minh, đạt chuẩn thực chất về văn hóa; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; quy chế văn hóa công sở và trong các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp; xây dựng được ý thức và nếp sống văn minh trong văn hóa giao thông và ở nơi công cộng. Xây dựng gia đình thực sự là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa và giáo dục nếp sống cho con người; gắn kết giữa giáo dục trong gia đình với nhà trường và xã hội.

Hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các thiết chế văn hoá, thể thao nhất là ở cơ sở; quan tâm hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất cho các sinh hoạt văn hóa, thể thao ngoài trời, gắn với các công trình phúc lợi công cộng. Xây dựng Trung tâm đào tạo, huấn luyện và từng bước đầu tư xây dựng Khu Liên hiệp thể thao tỉnh; đẩy nhanh tiến độ và đưa vào khai thác sử dụng hiệu quả các công trình văn hóa trọng điểm. Bảo tồn, khai thác sử dụng có hiệu quả các công trình văn hóa, lịch sử. Đẩy mạnh phong trào thể dục, thể thao, rèn luyện thân thể trong nhân dân. Phát triển, nâng cao chất lượng hoạt động văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sĩ đáp ứng yêu cầu đổi mới và nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng; định hướng, khuyến khích, hỗ trợ sáng tạo và phổ biến các tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, giàu chất nhân văn, định hướng xã hội tích cực.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động báo chí, thông tin, truyền thông phù hợp với xu thế mới; đảm bảo quyền được thông tin và tiếp cận thông tin của người dân, quyền tác giả và các quyền liên quan theo quy định của pháp luật. Làm tốt công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hoá, thể thao, thông tin, truyền thông. Định hướng các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, tổ chức sự kiện, quảng bá văn hoá, lành mạnh. Ngăn chặn, phản bác kịp thời những luồng thông tin, sản phẩm văn hoá độc hại ảnh hưởng đến đạo đức, lối sống và sự phát triển của xã hội.

4- Phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ; bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu

Phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ để khoa học và công nghệ thực sự là động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất. Tập trung nghiên cứu ứng dụng và triển khai có hiệu quả các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới, góp phần tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất và con người để nâng cao năng lực khoa học công nghệ cho các tổ chức khoa học công nghệ của tỉnh. Thực hiện tốt và sử dụng có hiệu quả quỹ phát triển khoa học công nghệ của tỉnh, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Đẩy mạnh việc ứng dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới, năng lượng mới, năng lượng tái tạo, công nghệ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, công nghệ sinh học, công nghệ sạch trong sản xuất, bảo vệ môi trường và đời sống nhân dân.

Tăng cường bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Xác định bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái là yêu cầu cơ bản, xuyên suốt trong quá trình xử lý mối quan hệ giữa phát triển nhanh và bền vững. Thực hiện yêu cầu về bảo vệ môi trường trong từng quy hoạch, kế hoạch, chính sách và trong mỗi chương trình, dự án phát triển cụ thể. Thực hiện tốt công tác dự báo, cảnh báo các nguy cơ về môi trường; chủ động các biện pháp phòng, tránh và khắc phục hậu quả thiên tai.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong toàn xã hội. Chú trọng các biện pháp ngăn chặn, giảm ô nhiễm môi trường trong các khu công nghiệp, khu đô thị, khu dân cư. Từng bước thực hiện tăng trưởng xanh; kiểm soát phát khí thải nhà kính. Quan tâm công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng, góp phần bảo vệ môi trường. Thực hiện nghiêm việc xử lý nước thải theo đúng tiêu chuẩn quy định. Hoàn thiện mạng lưới quan trắc môi trường; hệ thống thoát nước, xử lý nước thải tại các khu vực trung tâm xã và khu dân cư tập trung.

Quản lý chặt chẽ việc thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn. Tập trung nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực xử lý chất thải rắn với các công nghệ mới, thân thiện với môi trường; ưu tiên thực hiện các dự án xử lý chất thải rắn, rác thải trong sinh hoạt và sản xuất. Khuyến khích phát triển các hợp tác xã, tổ hợp tác dịch vụ vệ sinh môi trường trong cộng đồng dân cư; xây dựng các công trình vệ sinh công cộng tại khu du lịch, đô thị và khu vực tập trung đông dân cư. Tập trung giải quyết dứt điểm các điểm nóng về ô nhiễm môi trường.

Xây dựng các công trình phòng chống úng, ngập; sớm khắc phục tình trạng ngập úng cục bộ tại một số điểm dân cư. Khuyến khích, hỗ trợ sử dụng các hình thức mai táng hợp vệ sinh, ít gây ô nhiễm môi trường.

5- Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân

Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước đi và từng chính sách phát triển; giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội bức xúc. Tạo cơ hội bình đẳng trong việc tiếp cận, khai thác, sử dụng và thụ hưởng các dịch vụ và phúc lợi xã hội.

Phát huy và thực hiện tốt các chế độ chính sách về lao động, việc làm và thu nhập đối với người lao động; cải thiện môi trường và điều kiện lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ giữa người lao động và người sử dụng lao động. Xử lý nghiêm vi phạm pháp luật về lao động. Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho các đối tượng thụ hưởng. Nâng cao chất lượng các hoạt động về thông tin thị trường lao động, tư vấn, giới thiệu việc làm. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, trong đó tập trung vào thị trường có tiềm năng, an toàn và thu nhập cao cho lao động. Tiếp tục cho vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm, Quỹ giải quyết việc làm địa phương. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đào tạo nghề, giải quyết việc làm; chú trọng đào tạo nghề cho lao động khu vực nông thôn, giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp. Khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho người thu nhập thấp. Đẩy mạnh việc cải thiện điều kiện sinh hoạt của nhân dân ở các khu vực khó khăn.

Thực hiện tốt các chính sách bảo đảm an sinh xã hội. Đa dạng hóa các hình thức trợ giúp và cứu trợ xã hội, nhất là đối với các đối tượng khó khăn. Thực hiện tốt lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân. Khuyến khích phát triển mạnh thị trường bảo hiểm. Tiếp tục thực hiện hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, hỗ trợ, tạo cơ hội cho hộ nghèo tiếp cận các chính sách trợ giúp về dạy nghề, tín dụng, tạo việc làm. Chủ động làm tốt công tác xã hội hóa chăm sóc, giúp đỡ người nghèo, gia đình chính sách, trợ giúp pháp lý cho người nghèo… Quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ các gia đình liệt sĩ, thương bệnh binh, người có công, cán bộ hưu trí.

III. TĂNG CƯỜNG QUỐC PHÒNG, GIỮ VỮNG AN NINH CHÍNH TRỊ VÀ TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI TRONG MỌI TÌNH HUỐNG; NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP, ĐỐI NGOẠI

Đảm bảo sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và Chỉ thị 46-CT/TW ngày 22/6/2015 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo an ninh, trật tự trong tình hình mới. Xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Xác định giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển nhanh và bền vững.

Tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang tỉnh; xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ có tổ chức hợp lý, chất lượng tốt, phối hợp với công an làm nòng cốt trong giữ vững ổn định an ninh chính trị, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, phòng cháy, chữa cháy, tìm kiếm cứu nạn. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân vững mạnh, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện ngày càng vững chắc. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh. Tổ chức thành công các cuộc diễn tập khu vực phòng thủ, diễn tập phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn. Quan tâm thực hiện tốt chính sách quân đội và hậu phương quân đội. Thực hiện tốt Luật nghĩa vụ quân sự, nhất là công tác tuyển quân hàng năm.

Chủ động nắm tình hình, giải quyết tốt những phức tạp từ cơ sở, không để hình thành “điểm nóng”, không để xảy ra đột xuất, bất ngờ. Tăng cường công tác bảo đảm an ninh chính trị nội bộ, an ninh văn hoá – tư tưởng, an ninh kinh tế, an ninh xã hội. Bảo vệ tuyệt đối an toàn các sự kiện chính trị, xã hội, các mục tiêu trọng điểm. Chủ động đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, không để hình thành tội phạm có tổ chức, tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý trên lĩnh vực an ninh trật tự. Tiếp tục thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các nội dung về đảm bảo trật tự, an toàn giao thông. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, chú trọng xây dựng các mô hình tự phòng, tự quản, tự bảo vệ ở cơ sở. Tiếp tục xây dựng lực lượng công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, toàn diện. Tăng cường cho công an cơ sở và nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự tại cơ sở.

Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, chú trọng nâng cao chất lượng tranh tụng trong xét xử, bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo; gắn công tố với hoạt động điều tra; không để xảy ra oan, sai trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án; giảm tỷ lệ thấp nhất hồ sơ vụ án bị hủy, trả lại để điều tra bổ sung. Tiếp tục củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức cơ quan tư pháp 2 cấp; xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh; nâng cao chất lượng hoạt động của luật sư và các tổ chức bổ trợ tư pháp. Tăng cường hiệu quả công tác phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân.

Tập trung chỉ đạo làm tốt công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Nâng cao trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, tổ chức của cấp ủy, chính quyền trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tăng cường sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, hạn chế khiếu kiện đông người, kéo dài, vượt cấp, kiên quyết không để phát sinh điểm nóng phức tạp.

Đẩy mạnh triển khai có hiệu quả các hoạt động đối ngoại trên cả 3 trụ cột: Ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa. Tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị song phương với nhiều địa phương của các nước. Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư nước ngoài, viện trợ phi chính phủ. Chỉ đạo triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 22 của Bộ chính trị khóa XI về Hội nhập quốc tế. Chủ động đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại, hợp tác quốc tế, tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, tiềm năng, lợi thế của tỉnh.

IV. PHÁT HUY DÂN CHỦ, XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN VÀ CỦNG CỐ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN

1- Kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng chính quyền vững mạnh

Tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tổ chức thực hiện Hiến pháp 2013 và các quy định pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương, kiện toàn tổ chức bộ máy hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 -2021. Xây dựng chính quyền các cấp vững mạnh.

Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của hội đồng nhân dân, nâng cao chất lượng đại biểu và hoạt động của tổ đại biểu, các ban, thường trực hội đồng nhân dân các cấp; đổi mới cách ra nghị quyết theo hướng phải bố trí đủ nguồn lực thực hiện; coi trọng việc tổ chức lấy ý kiến tham vấn, phản biện của các tổ chức, công dân vào các dự thảo, chương trình, đề án, dự án trước khi trình hội đồng nhân dân; đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tiếp xúc cử tri; phát huy vai trò, trách nhiệm của đại biểu hội đồng nhân dân; thông tin đầy đủ và đề nghị các tổ chức, cá nhân trả lời, giải quyết kịp thời các ý kiến, kiến nghị của cử tri. Nâng cao chất lượng các cuộc giám sát của hội đồng nhân dân. Thực hiện tốt chủ trương tái lập hội đồng nhân dân huyện, phường trên địa bàn tỉnh.

Ủy ban nhân dân các cấp tập trung chỉ đạo, điều hành tốt những nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế - xã hội. Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực. Đẩy mạnh phân công, phân cấp, phân quyền quản lý để nâng cao trách nhiệm, tính chủ động sáng tạo của các cấp, các ngành. Chủ động, sáng tạo đề ra những giải pháp thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu đã đề ra. Tiến hành rà soát chức năng, nhiệm vụ, sắp xếp tổ chức bộ máy, đổi mới mô hình và cơ chế hoạt động các cơ quan, đơn vị. Triển khai tích cực Đề án xác định vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức; cải cách chế độ công vụ, công chức, đánh giá kết quả làm việc của công chức gắn với chủ trương tinh giản biên chế trong toàn hệ thống. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2012-2020. Thực hiện tốt việc công khai, minh bạch các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước để nhân dân theo dõi, giám sát; đề cao trách nhiệm giải trình của thủ trưởng, người đứng đầu đối với các vấn đề dư luận quan tâm. Tăng cường cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tiến đến xây dựng nền hành chính điện tử thông thoáng và hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân; tiếp tục cải thiện và duy trì thứ bậc cao trong xếp hạng các chỉ số PCI, PAPI của tỉnh. Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa và nâng cao chất lượng các lĩnh vực dịch vụ công.

2- Củng cố tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội trong tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân

Các cấp ủy đảng đổi mới phương thức lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, khắc phục hành chính hóa trong hoạt động; tăng cường chỉ đạo công tác phối hợp giữa chính quyền với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện Quy chế giám sát và phản biện xã hội, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương; bảo đảm điều kiện để các tổ chức chính trị - xã hội phát huy vai trò và nâng cao hiệu quả hoạt động; củng cố xây dựng tổ chức vững mạnh và tăng cường kết nạp đoàn viên, hội viên; tham gia đóng góp ý kiến xây dựng Đảng, chính quyền. Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, các chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo.

Mặt trận Tổ quốc các cấp tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc và vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước và địa phương. Có hình thức, cơ chế, biện pháp thích hợp để nhân dân bày tỏ chính kiến, nguyện vọng và thực hiện quyền làm chủ của mình; làm tốt vai trò nòng cốt trong việc tập hợp, đoàn kết và phát huy dân chủ, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

Liên đoàn Lao động, công đoàn các cấp đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn và bảo vệ quyền lợi của công nhân. Thực hiện cơ chế, chính sách phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động cho đội ngũ công nhân. Xây dựng, củng cố hệ thống công đoàn vững mạnh.

Hội Nông dân các cấp tiếp tục phát huy vai trò của giai cấp nông dân, chủ thể của quá trình xây dựng nông thôn mới. Gắn việc triển khai các chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn với các nhiệm vụ công tác hội. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng hiệu quả, thiết thực, xây dựng tổ chức hội, xây dựng giai cấp nông dân đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ mới.

Đoàn Thanh niên tập trung xây dựng tổ chức Đoàn thực sự là đội hậu bị tin cậy của Đảng; phát huy vai trò xung kích đi đầu trong các phong trào thi đua, trong ứng dụng khoa học và công nghệ, có lối sống lành mạnh, tích cực tham gia phòng, chống tệ nạn xã hội; coi trọng công tác giáo dục truyền thống cách mạng, đạo đức, pháp luật cho thanh thiếu nhi; định hướng tư vấn việc làm cho thanh niên.

Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng gia đình“5 không, 3 sạch”, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, chung sức xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh. Tích cực nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; thực hiện tốt chức năng đại diện chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho phụ nữ và trẻ em.

Hội Cựu chiến binh các cấp nêu cao truyền thống anh hùng cách mạng; tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; thường xuyên giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ; đẩy mạnh chương trình giúp nhau làm kinh tế; cải thiện, nâng cao đời sống cho hội viên.

Các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp thực hiện tốt phương châm tự chủ, tự quản, tự trang trải, hoạt động đúng quy định của pháp luật và điều lệ của tổ chức, đồng thời huy động các nguồn lực xã hội làm từ thiện, nhân đạo.

V. XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

1- Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”

Quyết tâm, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị và cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp từ tỉnh đến cơ sở phải nghiêm túc, tự giác và có kế hoạch, biện pháp phù hợp thực hiện đồng bộ, có hiệu quả 4 nhóm giải pháp: Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiên phong, gương mẫu của cấp trên, của cán bộ, đảng viên; nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt đảng; nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách; nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, căn bản, tiếp tục ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.

2- Tăng cường công tác chính trị, tư tưởng; rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng

Tiếp tục đổi mới và nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng bộ và mỗi cán bộ, đảng viên; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.

Thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, công tác tuyên truyền, báo chí - xuất bản, văn hoá - văn nghệ, khoa giáo, lịch sử Đảng; trọng tâm là tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ phát triển của tỉnh. Chú trọng tuyên truyền các nhân tố mới, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt trên các lĩnh vực. Phát huy vai trò trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức đảng trong việc quán triệt, triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Tập trung lãnh đạo cụ thể hóa, thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI.

Chủ động nắm bắt và dự báo diễn biến tư tưởng của nhân dân, từ đó kịp thời định hướng dư luận xã hội; cán bộ chủ chốt cấp uỷ phải thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân. Không ngừng đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị cho phù hợp với các đối tượng và tình hình thực tế ở từng địa phương, cơ sở; chú trọng giáo dục đối với thế hệ trẻ. Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tại các cơ sở giáo dục đào tạo, nhà trường. Tiếp tục đổi mới hoạt động kỷ niệm các ngày lễ, ngày truyền thống theo hướng thiết thực, hiệu quả. Chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác tư tưởng.

Tiếp tục quán triệt sâu sắc tầm quan trọng, ý nghĩa thiết thực và lâu dài của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Thực hiện Chỉ thị gắn với thực hiện các nhiệm vụ chính trị, gắn với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và các phong trào thi đua yêu nước ở địa phương, cơ quan, đơn vị. Tiếp tục rà soát, xây dựng các chuẩn mực đạo đức ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, đánh giá. Các ngành xây dựng và ban hành chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, hướng dẫn thực hiện theo ngành dọc. Gắn việc thực hiện Chỉ thị 03 với công tác xây dựng Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI, phong trào xây dựng nông thôn mới và các phong trào thi đua yêu nước khác.

Chủ động phát hiện, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Phát huy vai trò gương mẫu trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên, nhất là lãnh đạo quản lý, người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân, tạo sự ổn định để phát triển.

3- Đổi mới và nâng cao công tác tổ chức xây dựng Đảng

Thực hiện kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị theo chủ trương của Trung ương. Tiến hành sắp xếp, rà soát bộ máy các tổ chức đảng, cơ quan tham mưu, các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Tổ chức triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 39 của Bộ Chính trị khóa XI về việc tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Thực hiện tốt các chủ trương thí điểm của Trung ương về tổ chức bộ máy đảng và hệ thống chính trị. Thực hiện chủ trương lập hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã. Cụ thể hoá các nội dung và tổ chức thực hiện có hiệu quả Kết luận 64 của Ban Chấp hành Trung ương về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở.

Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đảng viên. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 05 của Tỉnh ủy khóa XV về nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên giai đoạn 2013 -2020. Thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong mối quan hệ với các tổ chức chính quyền ở địa phương. Tăng cường đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp trong sinh hoạt chi bộ, đảng bộ cơ sở để tổ chức cơ sở đảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, là hạt nhân chính trị ở cơ sở. Đẩy mạnh công tác phát triển tổ chức đảng và đảng viên, nhất là trong các khu vực đặc thù như doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, vùng đồng bào dân tộc, vùng tôn giáo. Tăng cường công tác quản lý đảng viên, nhất là các đảng viên đi làm ăn xa.

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thực hiện tốt các nguyên tắc, phương châm trong công tác cán bộ. Bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy trình, quy định về công tác tổ chức, cán bộ; trọng dụng cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn giỏi, có năng lực, có kinh nghiệm thực tiễn, có uy tín trong nhân dân; kiên quyết đưa ra khỏi cấp ủy và vị trí công tác đối với những cán bộ yếu kém về phẩm chất, năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ. Phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ. Thí điểm thi chọn một số chức danh lãnh đạo, quản lý cấp phòng, cấp sở theo qui định của Trung ương; tiếp tục thí điểm bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân; thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh chủ chốt không phải là người địa phương. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động, nâng cao đạo đức, trách nhiệm công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức khi thực thi nhiệm vụ. Xây dựng đội ngũ cán bộ có cơ cấu hợp lý, có phẩm chất đạo đức, có trình độ lý luận chính trị, năng lực tư duy và tổ chức thực hiện nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 39 của Bộ Chính trị khóa XI về tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay. Đảm bảo các chế độ chính sách đối với cán bộ, đảng viên và thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng đối với tổ chức đảng và đảng viên.

4- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng

Các cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu cấp ủy phải nhận thức đầy đủ và toàn diện về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát trong công tác lãnh đạo của Đảng; thường xuyên quán triệt, học tập các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát. Chỉ đạo tổ chức thực hiện đồng bộ giữa công tác kiểm tra và công tác giám sát theo phương châm "giám sát phải mở rộng", "kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm" để chủ động phòng ngừa vi phạm, khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên ngay từ lúc còn mới manh nha.

Triển khai thực hiện toàn diện các nhiệm vụ của công tác kiểm tra, giám sát, gắn với công tác tư tưởng, công tác tổ chức. Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong việc chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát mà nòng cốt là uỷ ban kiểm tra các cấp. Chú trọng nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa và hằng năm, trong đó tập trung kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước; việc thực hiện các dự án, chương trình trọng tâm, trọng điểm; việc thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí, nhất là trong các lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm như quản lý và sử dụng đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, thực hiện chính sách xã hội, sử dụng ngân sách; công tác tuyển dụng, luân chuyển và bổ nhiệm cán bộ, việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ gìn đoàn kết nội bộ. Tăng cường kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống. Chỉ đạo thực hiện nghiêm túc thông báo kết luận của các cuộc kiểm tra, giám sát; tăng cường công tác phối hợp giữa uỷ ban kiểm tra với các ngành có liên quan. Quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng và kiện toàn tổ chức, bộ máy của uỷ ban kiểm tra các cấp bảo đảm về số lượng và chất lượng. Chỉ đạo uỷ ban kiểm tra các cấp thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm.

Giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo của cán bộ, đảng viên và công dân đối với tổ chức đảng và đảng viên; chủ động trong công tác nắm bắt tình hình, phát hiện những vấn đề phức tạp nảy sinh ở cơ sở để chỉ đạo giải quyết, không để bị động, bất ngờ. Thi hành kỷ luật nghiêm đối với tổ chức đảng, đảng viên có sai phạm, xem xét trách nhiệm của người đứng đầu trong việc để xảy ra vi phạm ở cơ quan, đơn vị; quá trình thi hành kỷ luật Đảng phải đảm bảo đúng phương châm “công minh, chính xác, kịp thời”, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng.

5- Tăng cường và đổi mới công tác dân vận

Tiếp tục lãnh đạo thực hiện tốt Nghị quyết số 25 của Trung ương Đảng khóa XI về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”. Làm tốt công tác nắm tình hình nhân dân, dân tộc, tôn giáo; vận động nhân dân chấp hành tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia phát triển kinh tế - xã hội; tập trung giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc chính đáng của nhân dân; quan tâm lãnh đạo cán bộ, đảng viên gương mẫu, đề cao trách nhiệm trước dân, làm tốt công tác dân vận theo chức trách của mình.

Thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân vận, dân tộc, tôn giáo thành các cơ chế, chính sách cụ thể của tỉnh; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với công tác dân tộc, tôn giáo trên địa bàn; phát huy vai trò tích cực của già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo. Thực hiện tốt các quy định của pháp luật về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị tỉnh. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức thực hiện công tác dân vận của các cơ quan nhà nước, gắn công tác dân vận với thực hiện chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, của từng cán bộ, công chức, viên chức; tạo điều kiện và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong giám sát và phản biện xã hội; tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền. Kiện toàn tổ chức hệ thống dân vận các cấp; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận. Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phong trào thi đua “Dân vận khéo” gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

6- Thực hiện tốt công tác nội chính; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo đối với công tác nội chính và phòng, chống tham nhũng theo sự chỉ đạo của Trung ương và tình hình của tỉnh. Gắn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Tiếp tục rà soát các cơ chế, chính sách, các quy định, quy trình trong quản lý nhà nước ở địa phương. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các giải pháp về phòng ngừa tham nhũng, ngăn chặn “lợi ích nhóm”; khắc phục “tư duy nhiệm kỳ”. Thực hiện có hiệu quả Chỉ thị của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản. Tập trung thanh tra, kiểm tra đối với các lĩnh vực trọng điểm dễ nảy sinh tiêu cực, tham nhũng. Tiếp tục kiểm tra, giám sát việc thanh tra, kiểm tra, xử lý tin báo, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế, chức vụ. Tăng cường giám sát của hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

7- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

Đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ tỉnh tới cơ sở. Xây dựng phong cách làm việc khoa học, trung thực, dân chủ, sâu sát cơ sở, gần gũi nhân dân, nói đi đôi với làm; thường xuyên trao đổi, tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe ý kiến nhân dân, không ngừng củng cố, giữ gìn mối quan hệ mật thiết gắn bó giữa Đảng với nhân dân. Thực hiện tốt quy định Đảng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.

Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Đảng bộ tập trung củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trước hết là trong cấp ủy, trên cơ sở nguyên tắc Điều lệ Đảng và pháp luật Nhà nước. Nêu cao vai trò trách nhiệm cá nhân, trước hết là người đứng đầu cấp ủy. Nâng cao năng lực tham mưu của các ban xây dựng đảng; chỉ đạo, lãnh đạo của đảng đoàn, ban cán sự đảng.

Đổi mới cách ra nghị quyết của cấp ủy theo hướng thiết thực, ngắn gọn, dễ hiểu, tính khả thi cao, chú trọng đến việc cân đối các nguồn lực và điều kiện triển khai có hiệu quả. Chỉ đạo, lãnh đạo chính quyền thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng thành cơ chế, chính sách, đưa nhanh nghị quyết vào cuộc sống.

Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị. Khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng ở một số đơn vị, cơ sở. Thực hiện tốt nguyên tắc Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay. Chỉ đạo xây dựng mối quan hệ phối hợp công tác chặt chẽ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị. Xây dựng và thực hiện nghiêm quy chế làm việc của cấp ủy. Cấp ủy tập trung lãnh đạo đề ra những chủ trương, định hướng lớn đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ theo pháp luật và điều lệ của các tổ chức; xác định rõ những công việc cấp ủy bàn bạc, cho ý kiến trước khi chính quyền quyết định và những công việc chính quyền chủ động quyết định theo thẩm quyền. Thường xuyên đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng, nhất là thủ tục hành chính; giảm các hội nghị, cuộc họp; đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí trong các cơ quan, tổ chức đảng.

                                                                       *

                                                                     * *

Trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XVI, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong thực hiện nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị.

Hai là, Tập trung huy động, khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho xây dựng kết cấu hạ tầng khung đô thị Vĩnh Phúc, phát triển công nghiệp, dịch vụ, du lịch và xây dựng nông thôn mới.

Ba là, Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp; tạo chuyển biến, tiến bộ rõ rệt trong cải cách thủ tục hành chính; nâng cao chỉ số cạnh tranh và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Bốn là, Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; tăng cường đào tạo nghề và giải quyết việc làm, chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu lao động.

Năm là, Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và của toàn dân, tập trung giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc; giữ vững trật tự, kỷ cương; nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Nhiệm kỳ qua, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Vĩnh Phúc đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện, rất đáng ghi nhận. Phát huy những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 30 năm đổi mới đất nước, kế thừa và phát huy những thành quả sau gần 20 năm tái lập tỉnh, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI khẳng định ý chí, nguyện vọng của trên 6 vạn đảng viên và hơn một triệu người dân tỉnh nhà quyết tâm giữ vững đoàn kết, kiên trì đổi mới, sáng tạo, chung sức, đồng lòng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện thắng lợi những mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ chính trị mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra, xây dựng Vĩnh Phúc ngày càng giàu đẹp, phồn vinh.

BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH KHÓA XV




TAG:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: