Xã Hội

Gặp người dẫn đoàn xe tăng Vĩnh Phúc vào chiến trường miền Nam

Thứ Năm, 26/12/2019

Lưng còng, chân chậm, mắt mờ... những vết tích của thời gian và lửa đạn chiến tranh in hằn trên thân thể người lính ấy, thỉnh thoảng lại trỗi dậy buốt giá, nhói đau ngày trở gió, nhưng trong ông, kí ức những ngày cầm súng chưa bao giờ phai nhạt.

Ông Sế khóc mỗi khi chạm vào những kỉ vật cũ

Một thời chinh chiến

Nghe ông Nguyễn Văn Sế (sinh năm 1943) kể câu chuyện về một thời rát mặt đạn bom khói lửa với cái giọng hào hùng, sang sảng... không ai nghĩ rằng, chính ông lại mang trong lòng nhiều điều tư lự về gia đình đến thế.

Khi mới 5 tuổi, ông Sế ôm mặt khóc vật vã bên thi thể mẹ, khi mẹ ông đang trên đường đi chợ về thì bị Tây bắn. Vài năm sau, bố ông cũng ngã bệnh rồi qua đời. Chưa đầy 10 tuổi, ông mồ côi cả cha lẫn mẹ, 8 anh em dìu dắt nhau sống lần lữa qua ngày tại thôn Thượng Yên, xã Đồng Thịnh (Sông Lô).

Càng lớn, ông càng ý thức sâu sắc về cái chết của mẹ, ông quyết tâm gia nhập quân ngũ, cầm súng đánh đuổi giặc khỏi quê hương và hơn hết là tự tay trả thù cho mẹ.

Tháng 11 năm 1966, ông xung phong nhập ngũ, mở đầu cuộc hành quân 2 tháng 29 ngày để vào tới miền Nam. Ông bắt đầu nếm trải những gian khổ của đời lính, rồi những nguy hiểm rình rập ngày đêm, nhưng có ngại chi khi trong lòng người lính ấy lúc nào quyết tâm cũng cao như núi. Sau lần trúng bom Napan vào Tết Mậu Thân năm 1968, mặt mũi, chân tay bị cháy sém, ông được đưa ra Bắc điều trị.

Lúc bấy giờ, với ông, nằm trong viện dưỡng bệnh mà tâm trí đặt hết ở chiến trường. Sau lần ấy, ông từ lính thông tin được điều sang đơn vị Xe tăng, dẫn 11 xe tăng từ Tam Dương - Vĩnh Phúc vào đóng quân tại rừng cao su Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh (nay là tỉnh Đồng Nai), chuẩn bị cho trận chiến mới.

Có mặt tại Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông Sế là Chỉ huy trưởng đội xe tăng K3B lội nước. Trong khi sắp giải phóng hết vùng Sài Gòn thì ngày 29/4/1975, đoàn xe của ông nhận nhiệm vụ, độc lập tiêu diệt đoàn giang tàu 19 chiếc của địch. Khi quân ta ào ạt tấn công, địch hốt hoảng tháo chạy, kết quả ta thu giữ 19 chiếc tàu, bắt sống hơn 400 tên địch.

Đáng nhớ nhất là trận Bù Bông (thuộc tỉnh Đăk Nông bây giờ), ông Sế trực tiếp chỉ huy đoàn xe tăng đánh vỗ mặt địch. Trận đánh diễn ra trên con đường huyết mạch để vận chuyển lương thực, vũ khí vào chiến trường miền Nam đi qua địa phận Bù Bông, một trong những nơi địch xây dựng dày đặc hệ thống đồn bốt phòng thủ. Trận này, đoàn xe của ông trúng đạn lửa, tuy chiến sĩ trong đoàn bị thương và chạy thoát được ra ngoài nhưng lại bị lạc mất 7 ngày trong rừng, không có gì ăn, có hôm ăn rau tàu bay, có hôm thì chặt cây chuối làm bữa, cỏ rừng thì vò bỏ nước xanh, ăn với muối. Không hề biết rằng ngoài kia đã được giải phóng hoàn toàn nên lúc gặp quân ta mà cứ ngỡ quân địch, mấy lần suýt nổ súng bắn nhầm nhau. Lúc nhận ra người nhà thì hầu hết anh em trong đơn vị ngã quỵ vì đói lả...

Những dấu hằn bom đạn

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông trở về trong vai trò đội trưởng đội sản xuất, rồi Bí thư chi bộ tại hợp tác xã ở quê nhà. Lập gia đình và sinh được 4 người con thì cô con gái út bị nhiễm chất độc màu da cam từ bố, vết thương chiến tranh ngày ngày hiện hữu trong cuộc sống đời thường của vợ chồng ông.

Là thương binh hạng ¾, lại mang trong mình chất độc màu da cam, chưa kể những vết thương cũ từ lần bị bom hất văng hàng chục mét tại trận đánh ở Bình Long, bom Napan cháy khắp cơ thể và cả lần sập hầm tại Đà Nẵng, ảnh hưởng đến cột sống khiến lưng ông thêm còng xuống, việc đi lại càng khó khăn hơn.

Ông bảo: “Mất mát, hy sinh như thế có hề chi so với những đồng đội, anh em không được trở về sau ngày giải phóng. Như tôi là còn may mắn lắm, nhiều khi không nghĩ là mình còn sống, bạn bè đã mấy bận thông tin về với gia đình là tôi đã hy sinh”.

Cầm chiếc ăng-gô, bi đông và những huân, huy chương trên tay, ông run run nâng niu những kỷ vật thiêng liêng ấy, tôi thấy những giọt nước mắt ông ngập tràn nơi khóe mắt. Đứa cháu ngồi bên bảo: “Ông lại nhớ các bạn già rồi”. Cái ăng-gô, bi đông- những kỉ vật gắn với một thời lính chiến, gắn với một phần máu thịt của ông và của biết bao đồng đội. Ít ai biết rằng, còn một “kỉ vật” ông đã cất giấu ở một nơi khác, đó chính là những viên đạn bom bi găm vào tĩnh mạch ở chân và đùi trong trận đánh ở căn cứ Mộc Bài năm xưa.

Rồi đây, có thể những kỉ vật ấy sẽ rời xa ông, nhưng những viên đạn bom bi thì còn mãi trong phần máu thịt ông cho đến ngày nằm xuống; nhắc ông về một thời khói lửa đã xa.

Bài, ảnh Hoàng Cúc



TAG:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: