Xã Hội

Ký ức Điện Biên

Thứ Ba, 07/05/2019

Mặc dù đã 87 tuổi, song, cựu chiến binh, trung tá, bác sĩ, chiến sĩ Điện Biên Trần Minh Quang, Trưởng Ban Liên lạc chiến sĩ Điện Biên thành phố Vĩnh Yên vẫn minh mẫn và mạnh khỏe. Ông tham gia cách mạng năm 1945, chiến đấu trong cả cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trước khi nghỉ hưu, ông là bác sĩ, Chủ nhiệm Quân y của Học viện Kỹ thuật Quân sự. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954,ông là y tá trưởng quân y Trung đoàn 165, Đại đoàn 312 - đơn vị tham gia đánh đồi Độc Lập.

Nhớ lại những ngày tháng hào hùng của đời chiến sĩ trong chiến dịch Điên Biên Phủ, ông kể: Nơi đóng quân của đơn vị ông là Rừng Chuối, chỉ cách đồi Độc Lập khoảng 3 km. Tại đây, ông đã cùng đơn vị công binh có sáng kiến đào hầm chữ V để đáp ứng cho hai bàn mổ thuận lợi. Lúc đó, chưa có hầm kèo, đơn vị phải làm dầm gỗ chống sập. Hầm của đơn vị quân y kiên cố, chịu được bom rung, đạn nổ suốt từ đầu chiến dịch tới ngày giải phóng Điện Biên Phủ. Trong những ngày làm nhiệm vụ y tá trưởng cứu chữa thương, bệnh binh, ông đã có hai sáng kiến:Một là, đơn vị giao cho ông làm chiếc đèn mổ (vì ở chiến trường không có điện), ông đã sáng kiến lấy chiếc đi-a-mô từ xe đạp cũ để làm mô-tơ phát điện, tìm kiếm dây cao su làm dây cô-roa để quay, bóng đèn đặt trong hòm gỗ chiếu sáng để mổ. Sáng kiến thứ hai là làm dụng cụ rửa tay tự động bằng ròng rọc, dẫn nước bằng ống cao su.

Đồi Độc Lập là cứ điểm quan trọng của quân Pháp. Trung đoàn của ông nhận nhiệm vụ đào hầm vào để đánh đồi Độc Lập cùng với các mũi tiến công khác. Cứ điểm đồi Độc Lập đồ sộ nhất, dài 500 m, cao trên 100 m, có hai mỏm phòng ngự trong một thế trận phòng ngự lớn nhất; có hệ thống dây thép gai rộng, dày bao quanh, đồi có độ dốc lớn. Ở đây, địch xây dựng hai tuyến phòng ngự với hai tuyến dây thép gai dày khoảng 200 m, gài đủ các loại mìn bảo vệ. Vị trí quan trọng này do một tiểu đoàn Bắc Phi thiện chiến, hung hãn chiếm giữ và do 2 quan tư Pháp chỉ huy. Chúng được trang bị những vũ khí, kỹ thuật hiện đại, kể cả súng phun lửa, súng cối hạng nặng.

Việc đào hầm phải thực hiện ban đêm để đảm bảo bí mật. Cứ mỗi người cách nhau 1,5 m, nối dài về hướng cứ điểm của địch. Ban đầu, mọi người nằm đào, sau cúi đào, rồi ngồi đào. Ông nhớ lại, không đêm nào là không có thương binh bị trúng mìn của địch. Đau xót nhất là ông phải xử lý cắt chân đồng đội bị dập nát vì mìn của địch khi chiến đấu. Hình ảnh đó, ông không bao giờ quên...

Mới đầu, ta định đánh đồi Độc Lập và Him Lam cùng một đêm, sau thấy pháo mặt trận của ta chi viện cho cả hai nơi cùng một lúc thì sẽ phân tán, nên ta quyết định đánh đồi Him Lam trước vào ngày 13/3/1954. Khoảng 8-9 giờ sáng hôm sau, một đàn máy bay của Pháp bị lưới lửa phòng không của ta bắn lên dữ dội. Máy bay Pháp rụng như sung rụng. Cảm xúc lúc đó thật sung sướng! Bộ đội, dân công khắp mặt trận reo hò, vang dội cả núi rừng Mường Thanh!

3h30 đêm 15/3/1954, quân ta bắt đầu đánh đồi Độc Lập. Nhiệm vụ tiến công đồi Độc Lập được trên giao cho Trung đoàn 165, Đại đoàn 312 và Trung đoàn 88, Đại đoàn 308. Trung đoàn 165 đảm nhiệm mũi nhọn chủ yếu. Một trận đấu pháo dữ dội giữa 50 khẩu pháo của ta và địch chớp sáng cả bầu trời, núi đồi rung chuyển, khói lửa mịt mù. Tiểu đoàn 115 chủ công, cướp thời cơ nhanh chóng phát triển vào trung tâm chiến đấu. Đội hình phía sau có Tiểu đoàn 546 tiếp ứng và Tiểu đoàn 542 phòng ngự, chặn viện. Trên hướng chủ yếu, Trung đoàn 165 đột phá. Các chiến sĩ Tiểu đoàn 115 tiến lên mở cửa giữa lúc pháo của ta bắn trúng bãi mìn. Những trái mìn sáng của địch làm cho cửa mở sáng rực như ban ngày. Chỉ sau 10 phút, các chiến sĩ bộc phá đã hoàn thành nhiệm vụ. 3h55, pháo binh được lệnh ngừng bắn vì cuộc chiến đấu đã ở bên trong cứ điểm. Đến 6h30 sáng 15/3/1954, tiểu đội cầm cờ của Trung đoàn 165 đã xông lên đỉnh đồi và cắm lá cờ đỏ sao vàng "Quyết chiến quyết thắng" lỗ chỗ vết đạn lên đỉnh đồi Độc Lập. Trong trận đánh này, ta đã tiêu diệt 480 tên lính Bắc Phi, bắt sống 200 tù binh, trong đó có 2 quan tư Pháp.

Ngày 7/5/1954, sau khi ta tấn công vào sào huyệt cuối cùng của quân Pháp, cắm lá cờ đỏ sao vàng lên nóc hầm tướng Đờ Cát, tướng Đờ Cát đã bị bắt sống, Điện Biên hoàn toàn giải phóng. Tin đó đã được thông báo nhanh trong toàn quân bằng đường dây điện thoại. Tất cả anh em bộ đội, thương binh đều sung sướng, niềm vui vỡ òa không sao kể xiết. Sau bao năm chiến đấu, ngủ hầm, cơm vắt; nay đất nước đã được hòa bình, ai cũng phấn khởi, hạnh phúc dâng trào. Mỗi lần ôn lại kỷ niệm về chiến thắng Điện Biên Phủ, ông Quang không kìm được những giọt nước mắt xúc động, nhớ về đồng đội, người còn, người mất...

Một kỷ vật về Điện Biên Phủ ông Quang giữ được là mảnh dù đỏ của tướng Pháp ở Hà Nội gửi quà lên cho tướng Đờ Cát ngày 27/4/1954 rơi xuống trận địa của ta, bộ đội ta thu được. Trong một ca cứu chữa cho thương binh, ông đã được người chiến sĩ đó tặng làm kỷ niệm. Năm 2014,ông Quang đã tặng lại tấm vải dù đó cho Bảo tàng Quân khu 2. Gần đây, ông đã tặng cho Bảo tàng Điện Biên 5 hiện vật, gồm: Huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên Phủ, ông được tặng ngay tại mặt trận sau khi giải phóng Điện Biên, kèm theo giấy chứng nhận của Sư đoàn 312; hai múi vải dù vằn là chiến lợi phẩm lấy từ dù của quân viễn chinh Pháp thả tiếp viện xuống Điện Biên; một cuộn dây dù cũng là chiến lợi phẩm để sử dụng trong chiến đấu; tập tài liệu viết tay kể về trận đánh đồi Độc Lập, cứ điểm Bản Kéo... của Đại tá Dương Tùng, nguyên Chính trị viên, Phó Tiểu đoàn chủ công 115 và bản báo cáo tổng kết kỷ niệm 62 năm chiến thắng Điện Biên của Ban Liên lạc cựu chiến sĩ Điện Biên thành phố Vĩnh Yên kèm theo ảnh đại biểu dự kỷ niệm.

Nguyễn Ngọc Tung

(Hội VHNT tỉnh)



TAG:
Tin tức Mới:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: