Văn hoá - Văn nghệ » Tác giả - tác phẩm

Bàn Long – một căn cứ của Việt Nam Quang Phục hội năm 1918

Thứ Hai, 24/09/2018

Bàn Long (nay thuộc xã Minh Quang, huyện Tam Đảo) là căn cứ lập lần thứ 5 của Tượng Phong Ngô Quang Đoan vào năm 1918, sau khi có phong trào Việt Nam Quang Phục hội. Ông lập căn cứ với ý đồ sẽ là cơ sở chuẩn bị cho tiến hành bạo động, phối hợp với các hoạt động của Phan Bội Châu, Hoàng Trọng Mậu, Đinh Hồng Việt và nhiều yếu nhân khác. Nơi đây hẻo lánh, “rừng sâu, núi đỏ”, thác nước rì rào, chỉ có một bản đồng bào Sán Dìu ở cách đó năm dặm.

Theo gia phả do cụ Ngô Đức Tĩnh chép “Đến năm 1918, cụ bà Hoàng (tức thân mẫu cụ Đoan) mất, ông lại rủ một số đồng chí trong làng như Đỗ Ngọc Quán, tú tài Đinh Văn Kháng, Đỗ Ngọc Tuyên, các cháu là Ngô Long, Ngô Lân, Vũ Trọng (tức Vũ Tử Tài) và em ông là Ngô Quang Tiềm (cả đoàn 46 người) lên Vĩnh Yên làng Bàn Long thuộc huyện Bình Xuyên khai hóa một khu rừng gần chân núi Tam Đảo lập trại, chung quanh vỡ ruộng. Chỗ này đất tốt, địa thế hiểm trở, qua hai lần suối, rừng núi trùng điệp đến Tam Đảo”. Nơi đây còn có các ông Đặng Huy Tá (tức Cai Bộc), Lãnh Hoan, Lãnh Vân sau khi vượt ngục tù Côn Đảo đã về đây hội tụ. Nơi đây có cả các ông Cả Hành, Ấm Giao (quê Nam Định), Ba Liệu (tức Nguyễn Công Diệu - quê Thái Bình), thường lui tới cùng ông bàn việc quốc sự. Các ông là những nho sinh có học vấn. Khi đến Bàn Long, nhiều ông mang theo con, cháu. Ngày thì khai phá rừng, trồng cây, đêm thì ôn luyện võ nghệ, đọc binh thư và xướng họa thơ, văn...

Đây là căn cứ lập lần thứ 5 của Tượng Phong Ngô Quang Đoan. Sau này, đến lần thứ 6, khi lập trại ở Đạo Hoàng thì bị quân Nhật cướp và đốt nhà. Ông có câu: "Khai thác lục phiên thành ảo mộng/Tàng tu kỷ độ tổng hư công". Nghĩa là: "Khai khẩn sáu phen tan vỡ mộng/Chứa nuôi mấy độ chỉ hoài công".

Hoặc trong lúc ốm nặng, ông viết di chúc: "Sáu phen công xây dựng/Để sáu phen vỡ mộng/Tay trắng hoàn trắng không/Thương dã tràng xe cát/Suốt đời chỉ toi công". Trong 6 lần lập căn cứ, có lẽ, Bàn Long và Đạo Hoàng để lại nhiều ấn tượng nhất. Riêng Bàn Long, thời gian chỉ khoảng hơn 1 năm, mặc dù được thiên nhiên ưu đãi, đất đai phì nhiêu, nhưng lại có sự cố xảy ra bởi "rừng thiêng, nước độc" làm chết 3 người con, cháu và 2 người quân nghĩa nên các ông phải bỏ về quê… Nhưng cũng chính nơi đây, Tượng Phong Ngô Quang Đoan để lại nhiều áng thơ, văn và cũng là nơi rèn luyện ý chí cho những thanh niên tuấn tú tuổi mười tám, đôi mươi của làng Trình Phố. Ông Ấm Đoan còn để lại hai bài chữ nho, 4 bài nôm và đôi câu đối như sau: "Thủ dung tùng tâm, tạo vật túc trừ vô tận tạng/ Tạc canh thực lực, nhân gian biệt chiếm tự do quyền". Nghĩa là: "Mặc sức chi dùng, tạo vật giành cho kho vô tận/ Tự tay cày cấy, bầu trời riêng biệt quyền tự do".

… Và cũng tại Bàn Long, các sĩ phu làng Trình, những người theo ông như Tú Kháng, Ngô Long, Ngô Lân, Vũ Trọng, Đỗ Quán… sau đó ít năm đều trở thành những người con xuất sắc của đất Trình Phố. Các ông là nòng cốt trong nhóm thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội năm 1925. Đặc biệt, có Vũ Trọng (tức Vũ Tử Tài) sang Trung Quốc học khóa 3 do Hồ Chí Minh huấn luyện về nước và năm 1930, Trình Phố có chi bộ Đảng đầu tiên ở tỉnh Thái Bình. Ông Đặng Huy Tá (tức Cai Bộc) xưa là tướng cận vệ cụ Hoàng Giáp ở chiến khu, khi cụ mất, ông hai lần phò tá Ngô Quang Đoan đi Trung Quốc mua vũ khí và gả em gái cho ông Đoan. Khi ông Đoan bị lao tù tại Phú Thọ, chỉ có mình ông thăm nuôi em vợ và cũng là bạn chiến đấu vào sinh, ra tử. Pháp bắt được ông, đưa đi tù Côn Đảo, ông vượt ngục, rồi đóng bè vượt biển trở về Bàn Long cùng em nuôi chí đánh Pháp.

Ông Đỗ Quán cũng bị Pháp bắt tù Côn Đảo, sau này, khi cách mạng thành công, ông trở thành vị Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thái Bình đầu tiên và hiện nay ông có người cháu là Ủy viên Bộ Chính trị Trần Quốc Vượng, như minh chứng cho sự tiếp bước truyền thống yêu nước cha ông. Như vậy, đất Bàn Long chính là lò luyện chí, luyện khí đầu tiên của lớp thanh niên có học vấn của làng Trình Phố. Xin trích một bài thơ của Tượng Phong Ngô Đoan để thấy lại sinh khí của thời kỳ đó: "Cùng nhau cứ hiểm tụ nơi đây/Một cõi giang sơn vẫn đợi ngày/Trước mặt Đanh Sơn chầu hổ phục/Sau lưng Tam Đảo thế rồng bay/Nước còn quả phúc còn mong đợi/Dân biết mối thù biết chuyển lay/Thế cuộc bàn cờ đang biến đổi/Chờ xem bĩ thái lẽ vơi đầy/Bĩ rồi ắt có thái bình đây/Vận nước hanh thông hẳn có ngày/Hội tụ vườn thơm lòng vẫn thắm/Tâm giao nghĩa cả dạ không lay/Đua tranh thế cuộc nên dồn trí/Chèo lái con thuyền phải vững tay/Trông cậy tài ba người nghĩa sĩ/Rửa sao cho sạch hận trời mây!".

Giáo sư Lê Văn Lan

 



TAG:
Tin tức Mới:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: