Thời Sự

Tiềm năng, cơ hội và thách thức phát triển kinh tế dưới tán rừng các tỉnh trung du miền núi phía Bắc

Thứ Sáu, 03/12/2021

Sáng 3/12, Bộ NN&PTNT phối hợp với UBND tỉnh Lai Châu tổ chức hội nghị trực tuyến “Phát triển kinh tế dưới tán rừng các tỉnh trung du miền núi phía Bắc”. Chủ trì hội nghị trực tuyến có đồng chí Lê Minh Hoan, Ủy viên T.Ư Đảng, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT; Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT; Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu.

Các đại biểu dự hội nghị tại điểm cầu Vĩnh Phúc. Ảnh: Nguyễn Lượng

Hiện nay, vùng trung du miền núi phía Bắc có tổng diện tích rừng hơn 5,7 triệu ha, chiếm gần 40% tổng diện tích rừng toàn quốc; trong đó, diện tích rừng trồng tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Yên Bái, Tuyên Quang... với loại cây trồng chủ yếu là keo, bạch đàn, thông, quế. Tính đến năm 2020, tỷ lệ che phủ rừng của vùng đạt hơn 52%, cao hơn trung bình của cả nước.

Theo báo cáo đánh giá về thực trạng và tiềm năng phát triển kinh tế dưới tán rừng của Bộ NN&PTNT cho thấy, tiềm năng và cơ hội phát triển từ các giá trị của dịch vụ hệ sinh thái rừng ở các tỉnh vùng Trung du miền núi phía Bắc là rất lớn, bao gồm giá trị cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ, dịch vụ môi trường rừng, dịch vụ lưu trữ và hấp thụ các-bon, dịch vụ du lịch sinh thái...

Năm 2020, sản lượng khai thác gỗ rừng trồng đạt 7,9 triệu m3 gỗ, chiếm 38,5% sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng tập trung của cả nước. Trên địa bàn các tỉnh trung du miền núi phía Bắc hiện có 747 doanh nghiệp SXKD, chế biến gỗ và lâm sản, chiếm gần 13% số doanh nghiệp của cả nước; giá trị xuất khẩu lâm sản hằng năm chiếm khoảng 6,6% giá trị xuất khẩu của cả nước, việc xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tập trung chủ yếu ở một số địa phương như Vĩnh Phúc, Quảng Ninh...; các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu không có hoạt động xuất khẩu gỗ.

Việc phát triển chế biến, xuất khẩu gỗ tại khu vực chưa tương xứng với tiềm năng của rừng. Tài nguyên lâm sản ngoài gỗ bao gồm một số loại có diện tích trồng lớn và có sản lượng khai thác đạt giá trị cao như cây quế, cây hồi cùng một số loài gây trồng dưới tán rừng như thảo quả, sa nhân, ba kích... Tổng giá trị mà dịch vụ hệ sinh thái rừng khu vực trung du miền núi phía Bắc có khả năng cung cấp ước tính đạt hơn 15 nghìn tỷ đồng/năm.

Tuy nhiên, việc tính toán giá trị dịch vụ hệ sinh thái này vẫn chủ yếu tập trung vào giá trị từ gỗ, giá trị từ lâm sản ngoài gỗ, đặc biệt là dược liệu quý hiếm còn chưa được thống kê đầy đủ; giá trị từ du lịch sinh thái mới chỉ thống kê được tại khu rừng đặc dụng do Nhà nước quản lý... Thêm vào đó, không phải tất cả các dịch vụ môi trường rừng đều có thể được định lượng và quy đổi thành tiền.

Tại hội nghị, các đại biểu được nghe các tham luận chuyên đề về từ ý tưởng đến thực hành kinh tế xanh: Rừng đa tác dụng; mô hình bảo tồn gắn với phát triển du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Cúc Phương; phát triển vùng nguyên liệu lâm sản ngoài gỗ phục vụ cho SXKD ngành nghề nông thôn...; cơ hội và thách thức phát triển kinh tế dưới tán rừng giai đoạn 2021-2030.

Kết luận hội nghị, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan đánh giá cao tiềm năng phát triển kinh tế dưới tán rừng của các tỉnh trung du miền núi phía Bắc và khẳng định: Hội nghị này sẽ tiếp thu các ý kiến của các chuyên gia, những người làm trực tiếp, những nhà nghiên cứu, các ý kiến tâm huyết với đồng bào các dân tộc. Sản phẩm của Hội nghị là Bộ NN&PTNT sẽ có chương trình, đề án riêng cho Tây Bắc về phát triển kinh tế dưới tán rừng để từ đó tích hợp từ tài nguyên đa giá trị dựa trên ba trụ cột “Tài nguyên bản địa - Tinh hoa dân tộc - Đổi mới sáng tạo” với mục tiêu nâng cao chuỗi giá trị tương xứng với tiềm năng, sử dụng hệ sinh thái rừng bền vững, tạo nên Tây Bắc ngày mai với diện mạo khác.

Trên cơ sở tiềm năng, lợi thế về rừng, để phát triển và sử dụng bền vững đa giá trị của rừng, thời gian tới, Bộ NN&PTNT sẽ phối hợp với các bộ, ngành chức năng sớm hoàn thiện quy hoạch lâm nghiệp quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, tiểu vùng, bảo đảm hài hòa các mục tiêu phát triển KT-XH, môi trường, quốc phòng-an ninh.

Quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu tập trung cho từng tỉnh hoặc vùng; nghiên cứu, xây dựng chính sách, cơ chế đặc thù đối với từng loại rừng để phát huy giá trị, các chức năng tổng hợp; nghiên cứu, xây dựng hoàn chỉnh cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp; lồng ghép việc ứng dụng KHCN, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm sau thu hoạch.

Trên cơ sở định hướng về quy hoạch phát triển KT-XH của vùng, quy hoạch ngành, đồng chí Bộ trưởng Lê Minh Hoan đề nghị các tỉnh cần rà soát quỹ đất, vùng nguyên liệu, xác định loài cây trồng phù hợp; việc khai thác tiềm năng, lợi thế của hệ sinh thái rừng của mỗi tỉnh cần lồng ghép với các chương trình như xây dựng nông thôn mới, mỗi xã một sản phẩm, mục tiêu quốc gia phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030... để sử dụng tối ưu nguồn lực, huy động sức mạnh của toàn bộ hệ thống chính trị và người dân địa phương.

Lưu Nhung



TAG:
Tin tức Mới:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: