Thời Sự

Góp ý kiến vào dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII

Thứ Sáu, 18/09/2020

LTS: Thực hiện Công văn số 2266 ngày 17/9/2020 của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, từ số báo này, Báo Vĩnh Phúc mở chuyên mục Góp ý kiến vào dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII nhằm tập hợp và phát huy trí tuệ, quyền làm chủ của nhân dân tham gia đóng góp với Đảng bộ tỉnh trong việc hoạch định đường lối, chủ trương, quyết sách quan trọng của tỉnh đến năm 2025, góp phần nâng cao chất lượng dự thảo các văn kiện trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII; củng cố, bồi đắp niềm tin của nhân dân đối với Đảng, làm cho ý Đảng hợp với lòng dân. Thông qua việc công bố, thảo luận, lấy ý kiến của nhân dân vào dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII góp phần tạo sự thống nhất cao về nhận thức, hành động và ý chí quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII.  Thời gian lấy ý kiến từ ngày 17/9 đến hết ngày 30/9/2020.

Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII:

 

 

TỈNH ỦY VĨNH PHÚC

*

Số -BC/TU

(Dự thảo)

 

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Vĩnh Phúc, ngày tháng 9 năm 2020

 

XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH; TĂNG CƯỜNG ĐOÀN KẾT, PHÁT HUY DÂN CHỦ, SIẾT CHẶT KỶ CƯƠNG; ĐỔI MỚI SÁNG TẠO, PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN, NHANH VÀ BỀN VỮNG; XÂY DỰNG TỈNH VĨNH PHÚC TRỞ THÀNH ĐÔ THỊ HIỆN ĐẠI, GIÀU MẠNH, VĂN MINH

-----

Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), trực tiếp thực thi nhiệm vụ phát triển toàn diện quyết sách của Đại hội Đảng bộ lần thứ XVI giai đoạn 2015-2020 trong điều kiện có nhiều thuận lợi, tình hình chính trị xã hội ổn định, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả quan trọng, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng tiếp tục được củng cố và tăng lên. Thế và lực của đất nước, của tỉnh ngày càng lớn mạnh.

Tuy nhiên, chúng ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; bối cảnh thế giới và khu vực đang diễn biến nhanh, phức tạp, khó dự báo; về vấn đề xã hội và môi trường, dịch bệnh, thiên tai tạo áp lực lớn đến phát triển kinh tế - xã hội và đời sống Nhân dân; sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn diễn biến phức tạp.

Thuận lợi, khó khăn đan xen và nhiều vấn đề mới đặt ra phải giải quyết, đòi hỏi toàn Đảng bộ phải có quyết tâm chính trị cao, với tinh thần đổi mới và đột phá để đưa Vĩnh Phúc phát triển toàn diện, nhanh và bền vững. Với phương châm: Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XVII có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định những vấn đề lớn có tầm chiến lược và những vấn đề thực tiễn đặt ra nhằm đáp ứng mục tiêu xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xây dựng Vĩnh Phúc giàu mạnh, văn minh.

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XVI,

NHIỆM KỲ 2015-2020

I- NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, nhất là tiếp tục kế thừa, phát triển tư duy, tầm nhìn, lộ trình, phương thức phát triển của nhiệm kỳ thứ XVI, tỉnh Vĩnh Phúc không ngừng phát huy tiềm năng, thế mạnh để phát triển toàn diện, nhanh và ngày càng bền vững, nội lực của tỉnh được củng cố, tăng cường quan trọng trên nhiều phương diện.

1. Công tác xây dựng Đảng được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm

1.1. Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức được đặc biệt chú trọng, ngang tầm với yêu cầu phát triển toàn diện; nâng cao vị thế và vai trò lãnh đạo của Đảng trên tất cả các lĩnh vực

Công tác xây dựng Đảng về chính trị được đặc biệt chú trọng, luôn bám sát đường lối của Đảng, kịp thời cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Trung ương để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện phát triển toàn diện. Việc quán triệt, học tập, tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng kịp thời, nghiêm túc, cụ thể, sâu sát.

Chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng được nâng lên, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên; công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn được chú trọng, tạo sự thống nhất cao trong Đảng về nhận thức, tư tưởng và hành động. Chủ động nắm bắt diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và dư luận xã hội. Ban Chỉ đạo 35 các cấp trong tỉnh tích cực lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Công tác giáo dục lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên; giáo dục truyền thống cách mạng có nhiều đổi mới về nội dung và hình thức, sát thực tiễn. Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành và lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/TU về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên giáo trong tình hình mới.

Việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị TW4 (khóa XI, XII) gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 03, 05-CT/TW của Bộ Chính trị và các quy định nêu gương được Tỉnh uỷ lãnh, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, đạt nhiều kết quả quan trọng; thực sự đã góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mỗi đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp; củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng. Đặc biệt chú trọng trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, lấy sự nêu gương, hiệu quả công tác làm thước đo đánh giá phẩm chất, năng lực của mỗi cán bộ, đảng viên; nâng cao tính chính trị và tính tư tưởng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và thực thi các quyết sách của mỗi tổ chức đảng và đảng viên.

1.2. Công tác tổ chức, xây dựng Đảng; sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn được thực hiện đồng bộ, phù hợp với sự phát triển

Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm của cả nhiệm kỳ và đã tập trung quyết liệt triển khai các nhiệm vụ, giải pháp xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng đã thực hiện tốt Đề án số 04-ĐA/TU và Kết luận số 13-KL/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về nâng cao chất lượng chi bộ đảng trong sạch vững mạnh giai đoạn 2017-2020; coi chi bộ là hạt nhân lãnh đạo toàn diện các mặt công tác; chất lượng của chi ủy, chi bộ từng bước được nâng lên. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Hướng dẫn một số vấn đề về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và tiêu chí đánh giá chất lượng sinh hoạt chi bộ đối với 4 loại hình chi bộ trong Đảng bộ tỉnh, do đó chất lượng sinh hoạt chi bộ ngày càng đáp ứng yêu cầu xây dựng Đảng. Công tác phát triển đảng viên được quan tâm, bình quân mỗi năm kết nạp được 2.389 đảng viên (MTĐH: 2.300 đảng viên/ năm). Việc rà soát, sàng lọc, đưa đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng được thực hiện nghiêm túc.

Trong nhiệm kỳ, đã sáp nhập 2 đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy, giải thể 100% chi bộ đảng cơ quan xã và 126/137 chi bộ đảng quân sự xã, phường, thị trấn. Các chỉ tiêu về xây dựng Đảng đều vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra [1].

Thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ chính trị, Nghị quyết 18-NQ/TW, Nghị quyết 19 - NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khoá XII), Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng và thực hiện Đề án số 01-ĐA/TU về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016-2021 và đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện vượt kế hoạch đề ra, khắc phục sự chồng chéo, giảm nhiều đầu mối, tinh giản nhiều biên chế; mỗi năm tiết kiệm chi ngân sách được hàng trăm tỷ đồng [2].

Trong nhiệm kỳ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành 04 quy định về công tác cán bộ; theo đó, các khâu trong công tác cán bộ được thực hiện khoa học và chặt chẽ; chất lượng cán bộ được bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử nâng lên rõ rệt; cán bộ trẻ, cán bộ nữ được quan tâm và ngày càng có tỷ lệ cao trong các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể. Công tác quy hoạch cán bộ theo phương châm “động” và “mở” đã tạo sự chủ động trong công tác cán bộ. Thực hiện tốt chủ trương bố trí chức danh bí thư, chủ tịch UBND cấp huyện không là người địa phương và thí điểm thực hiện mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch UBND ở một số địa phương cấp xã.

Đặc biệt, Ban Thường vụ Tỉnh ủy chủ động sàng lọc, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển cán bộ. Kiên quyết, nghiêm minh trong thi hành kỷ luật, điều chuyển, thay thế đối với những cán bộ lãnh đạo, quản lý hạn chế về năng lực, tín nhiệm thấp, có nhiều dư luận không tốt, biểu hiện trì trệ. Mạnh dạn đề bạt cán bộ trẻ, cán bộ nữ có năng lực. Thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ chính trị nội bộ và chính sách cán bộ.

 


[1] - Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên đạt 95,1%/năm (MTĐH 95%);

- Tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên đạt 88,7%/năm (MTĐH 85%).

[2] Đến hết năm 2019, toàn tỉnh đã giảm được 04 đầu mối trực thuộc tỉnh, 227 đầu mối cấp phòng, giảm 150 lãnh đạo; tinh giản được 2.822 biên chế và 11.415 người hoạt động không chuyên trách; kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy đáp ứng nhiệm vụ mới; xóa bỏ cơ chế đặc thù của 16/19 tổ chức hội; thực hiện khoán xe công và giao tự chủ tài chính cho một số đơn vị sự nghiệp công lập.

 

Công tác kiểm điểm, tự phê bình và phê bình tập thể, cá nhân được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ và có nhiều đổi mới; mở rộng đối tượng kiểm điểm đến tập thể và cá nhân (Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ từ tỉnh đến cơ sở). Đặc biệt, quy rõ trách nhiệm cá nhân đối với những khuyết điểm của tập thể và yêu cầu có kế hoạch khắc phục. Việc đánh giá, xếp loại tổ chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân lãnh đạo quản lý trong những năm gần đây được thực hiện nghiêm túc, khách quan, thực chất hơn, không chạy theo thành tích. Công tác thi đua, khen thưởng được thực hiện đảm bảo, đúng quy định.

1.3. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đổi mới theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, không có “vùng cấm” theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp có nhiều đổi mới trong việc xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát hằng năm, tránh sự trùng lặp về nội dung, đối tượng kiểm tra, giám sát và theo đúng quan điểm chỉ đạo “giám sát phải mở rộng, kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm”.

Với quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và cấp ủy các cấp đã tiến hành kiểm tra, giám sát đối với 6.014 tổ chức đảng, 5.953 đảng viên (tăng 6,6% số tổ chức đảng, tăng 5,8% số đảng viên so với nhiệm kỳ trước); trong đó: Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã thành lập 23 đoàn kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII gắn với công tác cán bộ, Chỉ thị 05-CT/TW và các quy định về nêu gương; tiến hành 06 cuộc kiểm tra, giám sát đối với Đảng đoàn HĐND tỉnh, Ban cán sự đảng UBND tỉnh về thực hiện các Nghị quyết của Tỉnh ủy trong phát triển kinh tế - xã hội; kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII gắn với trách nhiệm nêu gương đối với một số đồng chí cấp ủy viên, cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý. Lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc việc khắc phục những khuyết điểm, vi phạm và xem xét trách nhiệm, xử lý kỷ luật các tổ chức đảng, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm đã được Ủy ban Kiểm tra Trung ương kết luận. Ủy ban kiểm tra các cấp tiến hành kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 484 tổ chức đảng cấp dưới và 1.016 đảng viên.

Cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật đối với 29 tổ chức đảng (tăng 12,5% so với nhiệm kỳ trước), đặc biệt, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy xem xét, xử lý kỷ luật đối với 04 tổ chức đảng và 33 đảng viên, trong đó có 11 đồng chí Tỉnh ủy viên và nguyên Tỉnh ủy viên; sau kỷ luật, đã cho thôi giữ chức vụ, điều chuyển công tác khác đối với 07 đồng chí cán bộ thuộc diện Ban thường vụ Tỉnh ủy quản lý. Cấp ủy các cấp, Ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật bằng nhiều hình thức đối với 1.643 đảng viên.

Công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng của Đảng bộ tỉnh đã trực tiếp, thiết thực, cảnh tỉnh và răn đe đối với các biểu hiện vi phạm; nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp trong rèn luyện phẩm chất đạo đức và thi hành công vụ; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tác động rõ nét trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tạo chuyển biến tích cực trong hệ thống chính trị, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.

1.4. Công tác dân vận ngày càng đổi mới theo hướng sát dân, sát cơ sở; huy động được sự tham gia của cả hệ thống chính trị, nâng cao hiệu quả công tác dân vận chính quyền, tạo được niềm tin, sự đồng thuận của Nhân dân trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị

Các cấp ủy kịp thời cụ thể hóa, chỉ đạo thực hiện các chủ trương, chính sách của Trung ương, của Tỉnh uỷ về công tác dân vận, công tác dân tộc và tôn giáo phù hợp với thực tiễn của tỉnh, góp phần tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ trên tất cả các lĩnh vực. Nội dung, phương pháp công tác dân vận được đổi mới phong phú, có chiều sâu, tác động tích cực đến vai trò nêu gương, đề cao trách nhiệm cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trước Nhân dân. Thực hiện nghiêm Quy chế tiếp dân, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với Nhân dân qua đó tiếp thu, chỉ đạo giải quyết những ý kiến và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.

Việc xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được thực hiện tốt, có chuyển biến tích cực về nhận thức và việc làm cụ thể; vai trò của các ban thanh tra Nhân dân, ban giám sát đầu tư cộng đồng tiếp tục được phát huy. Phong trào thi đua “Dân vận khéo” được chỉ đạo triển khai sâu rộng, xuất hiện nhiều mô hình, điển hình hiệu quả, có sức lan tỏa trong Nhân dân.

1.5. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí được chú trọng, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị các cấp trong sạch, vững mạnh

Các chủ trương của Trung ương về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được triển khai, thực hiện nghiêm túc, quyết liệt. Việc tuyên truyền, quán triệt nâng cao nhận thức, xác định rõ trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân, đến các giải pháp cụ thể được thực hiện khá đồng bộ, đã đạt kết quả tích cực. Các vụ việc liên quan đến tham nhũng có chiều hướng giảm; hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước ngày càng chặt chẽ, công khai, minh bạch hơn; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm phát hiện tham nhũng được tăng cường; chỉ đạo và xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng; công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng và thu hồi tài sản do tham nhũng được quan tâm chỉ đạo và có nhiều chuyển biến rõ rệt.

Tăng cường kiểm tra, giám sát các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ về phòng chống tham nhũng; giám sát hoạt động của các cơ quan tố tụng trong xử lý tội phạm tham nhũng; việc thực hiện các kiến nghị của Kiểm toán nhà nước; cho ý kiến về đường lối xử lý một số vụ án tham nhũng xảy ra trên địa bàn theo đúng Chỉ thị số 26 - CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật. Kết quả công tác trên đã góp phần từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng trên địa bàn.

1.6. Phương thức lãnh đạo của cấp ủy tiếp tục đổi mới trên tất cả các phương diện, ngày càng phong phú, phù hợp và hiệu quả

Trong nhiệm kỳ, phương thức lãnh đạo của Đảng về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục được đổi mới, tập trung lãnh đạo, tháo gỡ khó khăn, bám sát tiến độ, kết quả. Trong lãnh đạo, điều hành luôn giữ vững nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng và Quy chế làm việc của Tỉnh ủy, mở rộng dân chủ, tăng cường thảo luận, tranh luận để thống nhất, tập trung và quyết định. Việc phân công nhiệm vụ rõ ràng, minh bạch; không buông lỏng, coi nhẹ nhưng cũng không bao biện, làm thay, “lấn sân” các công việc không thuộc thẩm quyền và trách nhiệm. Hoạt động chất vấn trong Đảng được chú trọng.

Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy chủ động trong xây dựng chương trình toàn khoá; trọng tâm là phát triển kinh tế - xã hội và công tác xây dựng Đảng. Trên cơ sở các mục tiêu, nhiệm vụ trong các nghị quyết của Trung ương và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đề ra, lựa chọn những vấn đề lớn, trọng tâm, nổi bật để bàn bạc, thống nhất và ra các quyết nghị phù hợp. Hằng tháng, hằng quý đều lựa chọn các vấn đề quan trọng, vấn đề nóng, bức xúc trong đảng, hệ thống chính trị, trong Nhân dân để đưa ra thảo luận và ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện.

Chú trọng đổi mới phương pháp lãnh đạo, phân công các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy thường xuyên chỉ đạo, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của các cơ quan, đơn vị; chấn chỉnh kịp thời nhiều vướng mắc, hạn chế, yếu kém. Lãnh đạo cơ quan chính quyền cụ thể hóa các cơ chế, chính sách, giải pháp để thực hiện theo đúng chức năng, nhiệm vụ khá toàn diện.

Kiên trì đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc, cải cách hội họp, sơ kết, tổng kết, tránh hình thức trong các cơ quan đơn vị, tạo chuyển biến mạnh mẽ, tích cực trong thi hành công vụ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng đề ra.

2. Kinh tế tiếp tục phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; các đột phá chiến lược được thực hiện hiệu quả; phát triển đô thị và Chương trình xây dựng nông thôn mới tiếp tục được quan tâm; quản lý tài nguyên, khoáng sản có nhiều chuyển biến

2.1. Kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, cao hơn mức tăng trưởng giai đoạn trước, chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động từng bước cải thiện và nâng lên; quy mô kinh tế tiếp tục mở rộng

Kinh tế của tỉnh tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao, bình quân 7,1%/năm (MTĐH: 7-7,5%), cao hơn bình quân cả nước và tương đương với các tỉnh, thành phố.

Quy mô GRDP tăng cao, năm 2020 ước đạt 122,68 nghìn tỷ đồng; gấp 1,56 lần năm 2015 (MTĐH: 1,5-2 lần); GRDP bình quân đầu người ước đạt 105 triệu đồng năm 2020[3];

Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năng suất lao động tăng bình quân hơn 8,38%/năm, cao hơn bình quân chung cả nước (5,8%/năm[4]); cơ cấu đầu tư chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng vốn đầu tư/GRDP bình quân đạt 32,66% (MTĐH đạt 25-30%/năm); hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của tỉnh tương đối tốt, chỉ số ICOR chỉ 3,31, thấp hơn nhiều so với bình quân cả nước là 6,14. Đặc biệt, công nghiệp là một thế mạnh vượt trội của tỉnh, trong khi quy mô nền kinh tế chiếm 1,7% GDP cả nước thì công nghiệp Vĩnh Phúc đóng góp đến 4,5% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước.

Thu ngân sách nhà nước đạt cao, tăng bình quân 5,6%/năm, vượt mục tiêu Đại hội đề ra và luôn đứng tốp đầu cả nước về thu nội địa, là tỉnh nằm trong nhóm có tỷ lệ điều tiết về trung ương[5] . Chi ngân sách đáp ứng nhiệm vụ của tỉnh, trong đó đã ưu tiên, tăng chi cho đầu tư phát triển và an sinh xã hội.

2.2. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa rõ nét

Sản xuất công nghiệp - xây dựng đạt mức tăng trưởng khá cao, ngành công nghiệp tiếp tục đóng vai trò là động lực cho phát triển kinh tế.

Tăng trưởng ngành công nghiệp - xây dựng ước đạt 10,61%/năm (MTĐH: 7-7,5%/năm), đóng góp trên 65% điểm tăng trưởng chung của tỉnh. Giá trị gia tăng ngành công nghiệp chế biến chế tạo chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu ngành công nghiệp và đóng góp lớn cho ngành công nghiệp chế biến chế tạo của cả nước. Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh có mức tăng khá, linh kiện điện tử trở thành sản phẩm chủ lực và có mức tăng cao nhất, bình quân đạt trên 48%/năm[6]. Ô tô, xe máy tiếp tục giữ vai trò là sản phẩm chủ lực.

Các ngành dịch vụ phát triển ổn định, nhiều ngành có mức tăng trưởng khá, chất lượng ngày càng được nâng lên, đóng góp quan trọng vào kết quả phát triển kinh tế - xã hội.

Tăng trưởng các ngành dịch vụ giai đoạn 2016-2020 ước đạt 6,21%/năm[7]. Lượng khách du lịch tăng bình quân 15%/năm. Tỉnh đã tập trung đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp kết cấu hạ tầng du lịch nhằm khơi dậy các tiềm năng cho ngành du lịch. Kinh doanh vận tải phát triển, khối lượng vận chuyển hàng hóa tăng 4,48%/năm, số lượng hành khách luân chuyển tăng 7%/năm. Dịch vụ thông tin liên lạc phát triển nhanh, chất lượng được nâng lên, điện thoại di động được phủ sóng toàn tỉnh.Tăng trưởng tín dụng bình quân đạt trên 22%/năm, cao hơn mức tăng của

cả nước (17%/năm); tỉ lệ nợ xấu giảm, hằng năm luôn dưới 1,5% tổng dư nợ tín dụng.

 


 

[3] Năm 2019, quy mô GRDP của tỉnh đứng thứ 6 vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (sau Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Dương), giá trị GRDP bình quân đầu người đứng thứ 5 vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (sau Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Phòng và Hà Nội).

[4] Năm 2020 dự kiến năng suất lao động bình quân của tỉnh đạt gần 200 triệu đồng/lao động.

[5] Năm 2019 thu ngân sách đạt hơn 35.000 tỷ đồng, đứng thứ 8 cả nước và thứ 4 vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ sau Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Vĩnh Phúc là 1 trong số 16 tỉnh/thành có tỷ lệ điều tiết ngân sách về Trung ương lớn nhất, lên đến 47%, chỉ đứng sau Hà Nội trong số các tỉnh miền Bắc.

[6] Năm 2019, giá trị sản phẩm linh kiện điện tử chiếm tỷ trọng gần 40% giá trị ngành công nghiệp của tỉnh.

[7] Tăng trưởng bình quân ngành dịch vụ giai đoạn 2011-2015 là 6,67%/năm.


Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản được tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật, đạt mức tăng trưởng bình quân 1,8%/năm[8].

Cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi chuyển dịch tích cực; dồn thửa đổi ruộng đang được triển khai ra diện rộng. Sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung được hình thành, nhiều mô hình sản xuất áp dụng quy trình VietGAP đạt hiệu quả cao. Năng suất, hiệu quả sản xuất của hầu hết các loại cây trồng đều tăng, giá trị sản xuất đạt trên 145 triệu đồng/ha (tăng 6% so với năm 2015), giá trị thu nhập đạt trên 65 triệu đồng/ha đất canh tác (tăng 7,5% so với năm 2015). Chăn nuôi phát triển khá, nhiều tiến bộ kỹ thuật mới trong chăn nuôi được áp dụng đem lại giá trị thu nhập cao. Trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng được quan tâm; tỉ lệ che phủ rừng tăng từ 24% năm 2015 lên 25% năm 2020. Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản tăng bình quân 3,88%/năm.

2.3. Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển; môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; thu hút đầu tư đạt kết quả cao

Kinh tế ngoài nhà nước duy trì tốc độ tăng trưởng khá, bình quân đạt 9,27%/năm. Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và thành phần kinh tế tư nhân ngày càng đóng góp lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh (lần lượt là 43,7% và 42,9% năm 2019)[9] và phát triển khá nhanh[10]. Kinh tế tập thể đã có những chuyển biến tích cực; kinh tế hộ ổn định và phát triển. Đến nay cơ bản hoàn thành công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước.

Từng bước hình thành các cơ chế, chính sách để hỗ trợ thị trường bán lẻ trong tỉnh; thương mại điện tử phát triển; mạng lưới và kết cấu hạ tầng các trung tâm thương mại, chợ và các cơ sở kinh doanh tiếp tục được đầu tư. Thị trường xuất khẩu ổn định, kim ngạch xuất nhập khẩu, số lượng các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tăng[11]. Thị trường khoa học và công nghệ được quan tâm, góp phần hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh. Thị trường lao động, kết nối cung - cầu lao động từng bước phát triển.

Môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) nằm trong nhóm các tỉnh, thành phố có thứ hạng cao. Tỉnh đã thu hút được 2,86 tỉ USD vốn FDI và 56,27 nghìn tỉ đồng vốn DDI (MTĐH: thu hút FDI 1,3-1,5 tỷ USD; DDI: 14-15 nghìn tỷ đồng); 05 dự án với số vốn 258 triệu USD, đầu tư vào kết cấu hạ tầng, xử lý và quản lý nguồn nước trên địa bàn.

2.4. Tổ chức thực hiện có hiệu quả ba đột phá về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng kết cấu hạ tầng

 

Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành các nghị quyết về cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh giai đoạn 2016-2021 (Nghị quyết số 01-NQ/TU và Nghị quyết số 02-NQ/TU, ngày 01/9/2016); có nhiều chủ trương, chính sách đặc thù nhằm phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, môi trường, nâng cao đời sống người dân, giữ vững an ninh, quốc phòng (Nghị quyết số 10/NQ-TU, Nghị quyết số 12/NQ-TU, Chỉ thị số 33/CT-TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy,…). Cải cách hành chính được chú trọng, nhất là cải cách thủ tục hành chính. Tỉnh sớm xây dựng và đưa vào sử dụng bộ phận một cửa liên thông, hiện đại ở cả 3 cấp. Trung tâm Phục vụ hành chính công của tỉnh được phát huy, giảm một phần ba đến một nửa thời gian giải quyết các thủ tục hành chính so với quy định.

Ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát triển nguồn nhân lực phát huy hiệu quả trên các lĩnh vực, nhất là giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, y tế (như Nghị quyết số 10-NQ/TU, ngày 20/11/2019 về phát triển nguồn nhân lực, thu hút nhân tài). Có chính sách đặc thù nâng cao thu nhập cho đội ngũ giáo viên trường chuyên và hỗ trợ người học; chính sách tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, đãi ngộ, trọng dụng nhân tài trong khu vực nhà nước. Quy mô, chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh tiếp tục được nâng lên.

Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 20/11/2019 về đầu tư tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị Vĩnh Phúc đến năm 2025. Nhiều dự án xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, công nghiệp, du lịch, văn hoá, nông nghiệp, nông thôn mới được thực hiện và hoàn thành, đóng góp quan trọng vào sự phát triển của tỉnh [12].

2.5. Phát triển đô thị và Chương trình xây dựng nông thôn mới tiếp tục được quan tâm và đạt được nhiều tiến bộ quan trọng; sự hợp tác với các địa phương trong vùng và các tỉnh lân cận được củng cố, tăng cường

Quy hoạch và phát triển đô thị luôn được quan tâm đầu tư, nhất là hệ thống hạ tầng khung đô thị Vĩnh Phúc; Phúc Yên đã trở thành thành phố trực thuộc tỉnh, 02 xã đủ tiêu chuẩn và được công nhận là phường; nhiều xã được công nhận là thị trấn và đô thị loại V; nhiều khu đô thị mới đang hình thành. Tỷ lệ dân số đô thị tăng hằng năm, dự kiến năm 2020 đạt 45%. (MTĐH: 45%).

 

Hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực nông thôn tiếp tục được đầu tư; tổ chức sản xuất trong nông nghiệp từng bước được đổi mới. Xây dựng nông thôn mới đạt thành tích nổi bật, đến năm 2019, toàn tỉnh có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (NTM), 04/09 huyện, thành phố (chiếm 44,4%) được công nhận đạt chuẩn NTM; có 18 sản phẩm được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận chất lượng sản phẩm OCOP; thu nhập bình quân/người/năm ở khu vực nông thôn năm 2018 đạt 39,5 triệu đồng.


 


 

[8] Tăng trưởng bình quân ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản giai đoạn 2011-2015 là 3,14%/năm.

[9] Kinh tế cá thể chiếm 53,5%; kinh tế tư nhân chiếm 36,2%; kinh tế tập thể chiếm 10,3% trong giá trị gia tăng khu vực ngoài nhà nước.

[10] Năm 2015 toàn tỉnh có hơn 6.600 doanh nghiệp, đến năm 2020 toàn tỉnh có hơn 10.500 doanh nghiệp.

[11] Kim ngạch xuất khẩu năm 2020 ước đạt 2,9 tỷ USD, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020 ước đạt 13%/năm. Kim ngạch nhập khẩu năm 2020 ước đạt 3,14 tỷ USD, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020 ước đạt 6%/năm. Trên địa bàn tỉnh có khoảng trên 200 doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

[12] Điển hình đường vành đai 2, 3 đô thị Vĩnh Phúc, đường Văn Quán đi huyện Sông Lô, cầu Phú Hậu, đường QL.2B lên Tam Đảo, đường Tôn Đức Thắng kéo dài, đường song song đường sắt, Bệnh viện Sản- Nhi, Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Trường Chuyên Vĩnh Phúc, chợ Vĩnh Yên, hạ tầng Khu Công nghiệp Thăng Long Vĩnh Phúc, Bá Thiện, Cụm Công nghiệp Đồng Sóc, Hùng Vương; các resort, khách sạn Dic star, West Lake, Venus Tam Đảo...

Hợp tác phát triển với các địa phương trong các Vùng được tăng cường trên nhiều lĩnh vực: Kết nối giao thông, thủy lợi, công nghiệp, dịch vụ, du lịch, nông nghiệp, an ninh, quốc phòng, phát triển đô thị, văn hóa, xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương.

2.6. Công tác quản lý tài nguyên được tăng cường, quan tâm chỉ đạo

Công tác quản lý đất đai có nhiều chuyển biến tích cực; chấn chỉnh, xử lý có kết quả bước đầu tình trạng lấn chiếm, xây dựng trái phép; cơ bản hoàn thành việc trả đất dịch vụ cho Nhân dân. Việc thu hồi, giao, cho thuê, đấu giá, chuyển mục đích sử dụng đất cơ bản thực hiện đúng quy định theo hướng rút gọn thời gian; bồi thường, giải phóng mặt bằng có chuyển biến, nhất là những năm cuối nhiệm kỳ. Đã kiên quyết thu hồi một số dự án chậm triển khai, không hiệu quả, sử dụng đất lãng phí[13].

Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, khoáng sản được tăng cường, siết chặt; tình trạng khai thác cát, sỏi và đất san lấp,... trái phép cơ bản được ngăn chặn.

3. Phát triển toàn diện, hài hòa các lĩnh vực văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội; tiềm lực khoa học và công nghệ từng bước được tăng cường; bảo vệ môi trường và phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu được quan tâm

3.1. Bảo đảm chính sách xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, nhất là giải quyết việc làm, giảm nghèo được đặc biệt quan tâm và có sự chuyển biến lớn

Các chính sách xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nhất là các dịch vụ xã hội cơ bản (giáo dục, y tế, nhà ở, nước sinh hoạt, thông tin truyền thông) được quan tâm. Chính sách bảo trợ xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, nhất là bảo hiểm y tế toàn dân đã đạt được những kết quả quan trọng[14]. Chính sách đối với người có công được đặc biệt quan tâm. Đa dạng hóa các hình thức trợ giúp và cứu trợ xã hội, nhất là các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em đạt nhiều kết quả tích cực. Bình đẳng giới, chống bạo hành có sự chuyển biến rõ rệt. Chính sách dân tộc, tôn giáo được thực hiện tốt, có hiệu quả, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Cùng với nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, hoạt động hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm được tăng cường. Việc cho vay vốn tạo việc làm, hỗ trợ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài được thực hiện hiệu quả [15] .

Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm nhanh (còn dưới 1%); 100% đối tượng thuộc hộ nghèo, hộ mới thoát nghèo và hộ cận nghèo được thụ hưởng các chính sách về y tế, giáo dục, nước sạch, vay vốn và trợ giúp pháp lý kịp thời. Đến năm 2019 toàn tỉnh không còn hộ nghèo thuộc đối tượng chính sách người có công với cách mạng.

13 Chuyển mục đích 3.388,41ha đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng để thực hiện 727 công trình, dự án.. Đã cấp 7.451 giấy CNQSDĐ cho tổ chức trên địa bàn tỉnh đạt 89,7% trên diện tích 634,09 ha; cấp 100.520 giấy CNQSDĐ cho hộ gia đình cá nhân đạt trên 98% với diện tích 2.446,52 ha. Cấp 161 giấy phép các loại thuộc lĩnh vực địa chất khoáng sản, 128 giấy phép thuộc lĩnh vực tài nguyên nước.

14 Hỗ trợ bảo hiểm y tế (BHYT) cho 1,31 triệu lượt đối tượng, nâng tỷ lệ người dân tham gia BHYT từ 71,19% năm 2015 lên 93% năm 2020 (chỉ tiêu Chính phủ giao là 90%).

15 Giai đoạn 2016-2020, giải quyết việc làm cho khoảng 24,039 nghìn người/năm, vượt mục tiêu đề ra (từ 19-20 nghìn người/năm).

3.2. Giáo dục - đào tạo tiếp tục phát triển, giữ chất lượng ổn định ở mức cao

Hệ thống mạng lưới trường lớp các cấp học được quy hoạch và được quan tâm đầu tư. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học được đầu tư đồng bộ theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Đến năm 2019, 100% các trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia. Chất lượng giáo dục toàn diện chuyển biến tích cực; phương pháp dạy, học, kiểm tra và đánh giá học sinh được đổi mới. Chất lượng phổ cập cho trẻ mầm non 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở (THCS) tiếp tục ổn định[16].

Tỷ lệ học sinh THCS vào trung học phổ thông (THPT) năm 2020 đạt 70% (MTĐH: 65-70%) ; tỷ lệ học sinh THCS vào học nghề ước đạt 26,1%. Năm học 2019-2020, tỉnh đứng thứ 5 toàn quốc về điểm trung bình các môn thi tốt nghiệp THPT, đứng thứ 4 toàn quốc về tỷ lệ học sinh đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia. Học sinh Vĩnh Phúc đạt nhiều huy chương trong các kỳ thi quốc gia, Olympic khu vực và quốc tế. Tỷ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 76%, trong đó lao động được cấp bằng, chứng chỉ chiếm 33,4% (MTĐH: 76% và 30-35%).

 

3.3. Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm thường xuyên

Cơ sở vật chất ngành y tế được tăng cường, nâng cấp ở các tuyến[17], cơ bản hoàn thành đầu tư mới Bệnh viện Sản Nhi, Nhà điều trị Nội trú Bệnh viện Đa khoa tỉnh, khởi công Nhà kỹ thuật nghiệp vụ Bệnh viện Đa khoa tỉnh. Nhiều thiết bị y tế hiện đại được trang bị; chất lượng khám, chữa bệnh được nâng cao; chất lượng chuyên môn, tinh thần, thái độ phục vụ, y đức của đội ngũ y, bác sỹ, nhân viên y tế được nâng lên...

Hệ thống y tế cộng đồng, y tế dự phòng, vệ sinh an toàn thực phẩm được chú trọng. Công tác phòng, chống, giám sát dịch bệnh được thực hiện tốt ở cả 3 tuyến, nhất là phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Chương trình mục tiêu Y tế - Dân số tiếp tục được triển khai, duy trì mức sinh thay thế ổn định trong nhiều năm. Tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em tiếp tục giảm, năm 2020 ước còn 8,0%. (MTĐH: dưới 9%).

Nguồn nhân lực ngành y tế được quan tâm, đến năm 2020 đạt 13,8 bác sỹ/vạn dân, vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra (MTĐH: 9,3 bác sĩ/ vạn dân). Công tác xã hội hóa trong y tế và tự chủ tài chính trong các cơ sở y tế công lập được đẩy mạnh. Công tác quản lý nhà nước về y, dược được tăng cường.

 


 

[13] Chuyển mục đích 3.388,41ha đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng để thực hiện 727 công trình, dự án.. Đã cấp 7.451 giấy CNQSDĐ cho tổ chức trên địa bàn tỉnh đạt 89,7% trên diện tích 634,09 ha; cấp 100.520 giấy CNQSDĐ cho hộ gia đình cá nhân đạt trên 98% với diện tích 2.446,52 ha. Cấp 161 giấy phép các loại thuộc lĩnh vực địa chất khoáng sản, 128 giấy phép thuộc lĩnh vực tài nguyên nước.

[14] Hỗ trợ bảo hiểm y tế (BHYT) cho 1,31 triệu lượt đối tượng, nâng tỷ lệ người dân tham gia BHYT từ 71,19% năm 2015 lên 93% năm 2020 (chỉ tiêu Chính phủ giao là 90%).

[15] Giai đoạn 2016-2020, giải quyết việc làm cho khoảng 24,039 nghìn người/năm, vượt mục tiêu đề ra (từ 19-20 nghìn người/năm).

[16] Tổng số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trên địa bàn tỉnh: 17.346 người, trong đó, cán bộ quản lý: 1.271 người; giáo viên: 14.939 người; nhân viên: 1.136 người. Có 12.480/14.939 giáo viên có trình độ đào tạo đạt chuẩn trở lên (đạt 83,5%), trong đó có 4.626/14.939 giáo viên có trình độ đào tạo trên chuẩn (đạt 30,97%). Giáo viên dân tộc thiểu số toàn tỉnh là 455 người (trong đó: Mầm non 176, tiểu học 131, trung học cơ sở 75, trung học phổ thông 73). Số trường công lập đạt chuẩn đạt 100%. Tỷ lệ kiên cố hóa: mầm non 92,6%, tiểu học 96,8%, trung học cơ sở 94,9%, trung học phổ thông 100%.

[17] Đến năm 2019, 100% trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia, cao hơn mức trung bình toàn quốc (76,5%); số giường bệnh/vạn dân năm 2020 ước đạt 39 giường bệnh, vượt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra (32 giường bệnh/vạn dân).

 

3.4. Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân được nâng lên, các hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin và truyền thông được triển khai có hiệu quả.

Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được quan tâm. Nhiều giá trị văn hóa dân tộc, di tích, di sản được bảo tồn và phát huy; đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao rõ rệt.

Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội có nhiều tiến bộ. Tỉ lệ thôn, làng văn hóa hằng năm đạt 92% (MTĐH: 75-80%/năm), tỉ lệ gia đình văn hóa đạt 92% (MTĐH: 85-90%).

Công tác thông tin - tuyên truyền, văn học nghệ thuật của tỉnh kịp thời phản ánh toàn diện các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng; các phong trào thi đua yêu nước; gương người tốt, việc tốt..., góp phần đẩy lùi văn hoá độc hại, trái thuần phong, mỹ tục và đưa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống.

Thể thao quần chúng phát triển mạnh; Thể thao thành tích cao có những bước tiến mới, một số môn đứng trong tốp đầu quốc gia, có vận động viên đạt huy chương khu vực, quốc tế đã góp phần quảng bá hình ảnh tỉnh Vĩnh Phúc năng động, phát triển tới bạn bè trong, ngoài tỉnh, quốc tế.

Các loại hình báo chí phát triển theo đúng định hướng, quy hoạch; hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, luôn bám sát chủ trương, đường lối và làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền trên các lĩnh vực của tỉnh. Hoạt động thông tin đối ngoại, thông tin cơ sở, phát thanh truyền hình và thông tin điện tử, xuất bản, in, phát hành được triển khai bảo đảm đúng định hướng , góp phần nâng cao dân trí, củng cố lòng tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

3.5. Công nghệ thông tin được đặc biệt quan tâm, hạ tầng công nghệ và truyền thông phát triển mạnh mẽ, chính quyền điện tử từng bước được triển khai

Lĩnh vực bưu chính, viễn thông cung cấp nhiều dịch vụ mới, phục vụ ổn định, rộng khắp; chủ động, đáp ứng các nhiệm vụ chính trị, hoạt động công ích, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Hạ tầng mạng sử dụng công nghệ mới, hiện đại, đồng bộ đã góp phần từng bước chuyển đổi số, tạo nền tảng vững chắc cho mở rộng mạng 4G và triển khai mạng 5G.

Ứng dụng công nghệ thông tin tại các cơ quan trong hệ thống chính trị cơ bản đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, điều hành, thực hiện công việc chuyên môn, giải quyết thủ tục hành chính. Triển khai chính quyền điện tử theo lộ trình đề ra mang lại hiệu quả bước đầu trong hoạt động của cơ quan nhà nước, góp phần minh bạch hóa nền hành chính của tỉnh. An toàn thông tin mạng, an ninh dữ liệu luôn được quan tâm; hệ thống thông tin của tỉnh hoạt động ổn định, thông suốt, tin cậy.

3.6. Phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ (KH&CN) được chú trọng

Tiềm lực KH&CN từng bước được tăng cường. Đã nghiên cứu, ứng dụng, nâng cao năng lực, trình độ KH&CN; nhiều mô hình sản xuất ứng dụng KH&CN đem lại hiệu quả kinh tế cao. Hàm lượng KH&CN đóng góp vào giá trị sản phẩm hàng hóa ngày càng tăng, góp phần tăng tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng kinh tế của tỉnh[18]. Thị trường KH&CN dần được hình thành. Hoạt động quản lý nhà nước về KH&CN có nhiều đổi mới.

3.7. Công tác bảo vệ môi trường và phòng, chống thiên tai, biến đổi khí hậu được chú trọng

Công tác quản lý, bảo vệ môi trường được chú trọng. Các khu công nghiệp cơ bản đã có hệ thống thu gom và xử lý nước thải đạt yêu cầu. Môi trường trong các cụm công nghiệp, làng nghề dần được cải thiện. Việc xây dựng, cải tạo hệ thống thu gom, thoát nước thải ở khu dân cư được triển khai rộng khắp và trở thành phong trào trong toàn dân[19]. Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt khu vực đô thị đạt quy chuẩn môi trường ước đạt 95% (MTĐH: 95%); tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn ước đạt 75% (MTĐH: 75%); tỷ lệ chất thải nguy hại và chất thải y tế được xử lý ước đạt 100% (MTĐH: 100%).

Các chương trình, dự án, kế hoạch phòng, chống thiên tai, chống ngập úng được triển khai tích cực. Các tuyến đê sông, hồ, đập thủy lợi thường xuyên được tăng cường, cải tạo, nâng cấp.

4. Quốc phòng, an ninh được củng cố và tăng cường; trật tự an toàn xã hội bảo đảm; thực hiện tốt công tác tiếp công dân; giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; hoạt động đối ngoại tiếp tục được mở rộng và đi vào thực chất

4.1. Bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh Nhân dân, thế trận lòng dân vững chắc

Thực hiện tốt các kế hoạch, chiến lược của Đảng về quốc phòng; kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế; xây dựng và thực hiện có hiệu quả các đề án xây dựng khu vực phòng thủ, phòng thủ dân sự; quan tâm quy hoạch, đầu tư xây dựng công trình phòng thủ, các kế hoạch đảm bảo nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện, chất lượng tổng hợp, trình độ sẵn sàng chiến đấu được nâng lên. Thực hiện tốt công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng; Công tác tuyển quân và huy động quân nhân dự bị tham gia huấn luyện, diễn tập hoàn thành 100% chỉ tiêu hằng năm.

An ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Luôn nắm chắc tình hình, chủ động phòng ngừa, không để phát sinh hoạt động chống phá, kích động biểu tình, gây rối an ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh. Thực hiện tốt công tác phòng ngừa, đấu tranh, trấn áp tội phạm và vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội[20]; không để hình thành tội phạm có tổ chức hoạt động theo kiểu “xã hội đen”. Công tác đảm bảo trật tự, an toàn giao thông được tăng cường, góp phần giảm tai nạn giao thông trên cả ba tiêu chí. Công tác phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ được quan tâm và đạt kết quả tích cực. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được quan tâm chỉ đạo, phát triển sâu rộng.

 

4.2. Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân được chỉ đạo quyết liệt, thường xuyên và có chuyển biến rõ rệt

Vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, đặc biệt là Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh trong lãnh đạo, chỉ đạo và trực tiếp tổ chức thực hiện việc tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân được thực hiện nghiêm túc. Việc tiếp và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ở các cấp được thực hiện cơ bản đúng quy định pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp trong Nhân dân đạt tỷ lệ cao (trên 90%); cơ bản giải quyết xong các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài.

4.3. Hoạt động đối ngoại tiếp tục được mở rộng và ngày càng đi vào thực chất

Công tác quản lý các hoạt động đối ngoại được thực hiện đúng quy định. Tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác, hữu nghị với các địa phương truyền thống của Lào, Hàn Quốc, Nhật Bản. Chủ động mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị quốc tế; thu hút FDI, ODA, viện trợ phi Chính phủ đa dạng, thực chất và hiệu quả hơn; nhiều kiều bào Vĩnh Phúc tích cực đóng góp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

5. Công tác xây dựng chính quyền, phát huy vai trò của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới và đi vào thực chất

5.1. Quản lý nhà nước trên các lĩnh vực được tăng cường, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp được nâng lên; công tác cải cách tư pháp chuyển biến tích cực

Đoàn đại biểu Quốc hội luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực tham gia các hoạt động của Quốc hội, đặc biệt là thảo luận, đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật và xem xét quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Đổi mới, nâng cao chất lượng các cuộc tiếp xúc cử tri. Thường xuyên giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội, chính sách, pháp luật tại các ngành, địa phương, đơn vị có vấn đề bức xúc, nổi cộm mà Nhân dân quan tâm. Thực hiện tốt chức năng tiếp nhận, chuyển đơn thư và đôn đốc các cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định.


 


 

[18] Đóng góp năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 34% .

[19] Đến nay, toàn tỉnh hoàn thành hơn 500km rãnh thoát nước thải ở khu dân cư.

[20] Tội phạm giảm 13,8% so với nhiệm kỳ trước; trọng án giảm 10%. Tỷ lệ điều tra, phá án đạt cao: đạt 86,8%, vượt 11,8% so với chỉ tiêu đề ra, trong đó tỷ lệ điều tra trọng án đạt 100%, vượt 5%.

Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp kịp thời cụ thể hóa các chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước thành các cơ chế, chính sách, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội. Chất lượng ban hành nghị quyết được nâng lên. Các kỳ họp của HĐND từng bước được đổi mới và nâng cao chất lượng, nhất là chất vấn, giám sát chuyên đề tại kỳ họp. Công tác giám sát được chú trọng, có nhiều đổi mới và phát huy hiệu quả. Công tác tiếp xúc cử tri, tiếp công dân và giám sát giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri, khiếu nại, tố cáo của công dân được tăng cường đem lại hiệu quả tích cực. Quan hệ giữa cơ quan dân cử với cử tri được cải thiện, niềm tin của cử tri với Đảng, Nhà nước được nâng lên. HĐND các cấp đã từng bước phát huy vai trò là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân.

Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp bám sát nhiệm vụ của cấp uỷ, thể chế hoá các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Nghị quyết của HĐND để tổ chức thực hiện; có nhiều giải pháp để tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực; hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước được nâng lên. Tỷ lệ chính quyền cơ sở vững mạnh bình quân hằng năm đạt trên 70%, vượt mục tiêu Đại hội đề ra. Quá trình chỉ đạo, điều hành có nhiều đổi mới, tập trung vào các nhiệm vụ lớn, quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tăng cường đôn đốc, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện. Tích cực xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh, tạo môi trường thuận lợi để phát triển sản xuất, kinh doanh, đảm bảo quốc phòng, an ninh.

Các cơ quan tư pháp tiếp tục thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các quy định của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp. Tổ chức, bộ máy, đội ngũ cán bộ các cơ quan tư pháp các cấp được kiện toàn. Chất lượng điều tra, truy tố, xét xử được nâng lên. Công tác xây dựng, phổ biến, giáo dục pháp luật; kiểm tra, theo dõi thi hành pháp luật được duy trì thường xuyên. Công tác bổ trợ tư pháp cơ bản đáp ứng được yêu cầu.

5.2. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng đã có nhiều đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động; thể hiện sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân

Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổ chức chính trị - xã hội tích cực hướng về cơ sở, vận động đoàn viên, hội viên và Nhân dân chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, giảm nghèo, quyên góp hỗ trợ thiên tai, dịch bệnh... có trọng tâm, chiều sâu, hiệu quả. Đã thể hiện tốt vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên.

Hoạt động của MTTQ các cấp có nhiều đổi mới và hiệu quả. Công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp, nắm bắt, phản ánh tình hình Nhân dân được chú trọng. Các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước được triển khai sâu rộng, thiết thực. Thực hiện có hiệu quả việc giám sát, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Những kết quả đạt được của công tác Mặt trận đã góp phần củng cố, mở rộng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, là nền tảng để góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Các cấp Công đoàn đẩy mạnh hoạt động chăm lo, đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động và chủ doanh nghiệp thông qua nhiều hoạt động thiết thực. Tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đến người lao động, chủ doanh nghiệp. Tham gia giải quyết những nhu cầu chính đáng, những bức xúc của người lao động; tham gia xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp với tinh thần hợp tác giữa chủ doanh nghiệp và người lao động theo văn hoá doanh nghiệp hiệu quả.

Hội Nông dân các cấp tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng giải quyết tốt lợi ích thiết thực của hội viên, luôn dựa vào nông dân, vì nông dân; kết hợp chặt chẽ phương pháp vận động, tuyên truyền với nâng cao hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước, nhất là phong trào “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững” và các hoạt động tư vấn, hỗ trợ, dịch vụ, đào tạo nghề cho nông dân để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm nông nghiệp, làm tốt vai trò chủ thể trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.

Các cấp bộ Đoàn luôn phát huy vai trò xung kích, tình nguyện, sáng tạo của tuổi trẻ tham gia phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trên các lĩnh vực: Xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng; sáng tạo trong học tập, nghiên cứu khoa học; lao động, sản xuất, kinh doanh; tư vấn, giới thiệu việc làm; hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp; chăm lo, bảo vệ thiếu niên, nhi đồng. Có nhiều giải pháp đổi mới trong đoàn kết, tập hợp thanh niên và tăng cường phối hợp giáo dục pháp luật, giáo dục truyền thống cách mạng, lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc bằng nhiều hình thức phong phú, tạo dấu ấn và có sức lan tỏa trong đoàn viên, thanh thiếu nhi trên địa bàn tỉnh.

Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp trong tỉnh tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện nội dung phương thức hoạt động. Đã đẩy mạnh việc thực hiện 2 cuộc vận động “Rèn luyện phẩm chất đạo đức: Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”, “Xây dựng gia đình 5 không 3 sạch” và các phong trào thi đua yêu nước như: “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Phong trào phụ nữ Vĩnh Phúc cử chỉ đẹp, sống nhân văn”. Động viên các tầng lớp phụ nữ phát huy nội lực, cần cù, năng động, sáng tạo, trách nhiệm; chăm lo xây dựng gia đình hạnh phúc; nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ với mục tiêu vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới.

Hội Cựu chiến binh các cấp luôn phát huy truyền thống và bản chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, Chính quyền, Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân; đẩy mạnh phong trào thi đua “Cựu chiến binh gương mẫu” với nhiều mô hình hoạt động như: câu lạc bộ cựu chiến binh tự quản bảo vệ môi trường ở khu dân cư, phong trào “xây dựng quỹ nghĩa tình đồng đội”, phong trào an ninh bảo vệ tổ quốc, giữ gìn trật tự, an toàn giao thông, phòng chống đuối nước; tích cực giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.

Hoạt động của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp được thực hiện đảm bảo đúng các quy định của pháp luật và điều lệ hội. Tích cực động viên các hội viên thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

II. HẠN CHẾ, YẾU KÉM VÀ NGUYÊN NHÂN

1. Hạn chế, yếu kém

Cùng với những thành tựu là cơ bản, rất quan trọng, nổi bật; song quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ còn bộc lộ một số hạn chế, yếu kém:

1.1. Về công tác xây dựng Đảng

Nhận thức tư tưởng; vai trò trách nhiệm của một số cấp ủy, các cơ quan tham mưu của Đảng ở một số nơi còn chưa thật tốt, chưa toàn diện. Ý thức trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của một số cán bộ Đảng viên, kể cả cấp ủy và người đứng đầu chưa cao, còn nhiều hạn chế.

Việc chỉ đạo xây dựng, ban hành chương trình, kế hoạch và đôn đốc triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị, các thông báo kết luận của Đảng ở một số nơi còn yếu, chưa quyết liệt, chưa sát với thực tiễn, thiếu giải pháp đột phá.

Việc nắm bắt, định hướng dư luận; công tác thực hiện một số chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan hiệu quả chưa cao.

Chất lượng sinh hoạt ở nhiều chi bộ, tính chiến đấu trong thực hiện phê bình và tự phê bình còn yếu; đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên ở một số nơi chưa thực chất. Công tác quản lý, rèn luyện, giáo dục đảng viên ở một số tổ chức đảng chưa nghiêm; một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa thể hiện được tính tiên phong, gương mẫu.

1.2. Về phát triển kinh tế

Tăng trưởng kinh tế của tỉnh chưa có sự đột phá so với các địa phương trong cùng khu vực. Thu nhập thực tế của người dân thấp hơn so với mặt bằng trung bình cả nước[21]. Môi trường đầu tư, kinh doanh chậm cải thiện, xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) giảm trong các năm đây [22].

Chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa bền vững. Sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh chủ yếu là gia công, lắp ráp. Phần lớn các doanh nghiệp sử dụng công nghệ trung bình, nhiều lao động và tiêu tốn năng lượng. Chưa thu hút được các doanh nghiệp lớn đầu tư vào các lĩnh vực sử dụng công nghệ cao. Hạ tầng kỹ thuật một số khu, cụm công nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu. Tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2016-2020 thấp hơn trung bình cả nước.

Tăng trưởng ngành thương mại dịch vụ, ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản chưa đạt mục tiêu Đại hội đề ra; du lịch chưa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; hạ tầng du lịch và chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu, thiếu các sản phẩm đặc trưng, chưa khai thác tốt các yếu tố văn hóa, lịch sử riêng có của tỉnh vào sản phẩm du lịch, chất lượng nhân lực làm du lịch thấp. Quy mô sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ vẫn là phổ biến; việc liên doanh, liên kết sản xuất giữa nông dân và doanh nghiệp còn hạn chế; rất ít doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp.

Số lượng doanh nghiệp thực tế đang hoạt động không nhiều[23], hầu hết có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa (chiếm 97,3%), tập trung ở lĩnh vực xây dựng, thương mại, dịch vụ. Năng lực tài chính, quản trị, hội nhập của các doanh nghiệp còn yếu. Chưa có nhiều doanh nghiệp lớn, giữ vai trò đầu tàu, dẫn dắt. Kinh tế tập thể, hộ gia đình còn nhiều yếu kém; số hợp tác xã kiểu mới chưa nhiều, hoạt động chưa gắn với thị trường, hiệu quả chưa cao.

Tốc độ đô thị hóa chậm. Nhiều dự án phát triển đô thị, nhà ở chậm tiến độ, thiếu đồng bộ. Thiếu những khu đô thị, sản phẩm bất động sản có chất lượng cao; chất lượng quy hoạch và quản lý quy hoạch đô thị và xây dựng thấp. Kết cấu hạ tầng còn thiếu tính hiện đại, nhiều công trình lớn, trọng điểm không đạt tiến độ.

Quản lý, sử dụng các nguồn lực chưa thật sự hiệu quả, đặc biệt đất đai và đầu tư công. Chất lượng xây dựng kế hoạch đầu tư công, chuẩn bị dự án đầu tư thấp, giải ngân vốn chậm; quản lý, phân bổ, sử dụng ngân sách nhà nước có lúc, có nơi còn dàn trải, hiệu quả kinh tế không cao.

Công tác quản lý nhà nước về đất đai chưa đáp ứng yêu cầu; xử lý tình trạng lấn, chiếm, sử dụng đất sai mục đích, xây dựng trái phép chậm, thiếu kiên quyết. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn. Chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa tốt, chưa đồng bộ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng.

1.3. Về phát triển văn hóa, xã hội; khoa học - công nghệ và bảo vệ môi trường

Nguồn nhân lực của tỉnh còn thiếu cả về số lượng và chất lượng, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; năng suất lao động thấp, giáo dục nghề nghiệp vẫn chưa gắn kết với nhu cầu thị trường lao động. Thu hút người có trình độ chuyên môn giỏi về làm việc tại tỉnh còn khó khăn. Chưa có cơ chế, chính sách đủ mạnh khuyến khích, tạo động lực cho đội ngũ cán bộ phát huy năng lực, trí tuệ, tâm huyết để cống hiến.

 

Cơ chế quản lý giáo dục còn chậm đổi mới; đội ngũ giáo viên, quản lý giáo dục chưa thật sự đáp ứng yêu cầu. Hệ thống giáo dục ngoài công lập chậm phát triển; giáo dục thể chất, đạo đức, kỹ năng sống, giáo dục hòa nhập cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức.

 

 


 

[21] Thu nhập thực tế của người dân Vĩnh Phúc năm 2018 là 44,4 triệu/người; cả nước là 46,2 triệu/người.

[22] Xếp hạng PCI giảm dần: đứng thứ 6 (năm 2015), thứ 9 (năm 2016), thứ 12 (năm 2017), thứ 13 (năm 2018), thứ 17 (năm 2019).

[23] Tỷ lệ doanh nghiệp đang hoạt động/1000 dân của Vĩnh Phúc là 6,52, trung bình cả nước là 7,6.

 

Các cơ sở dịch vụ khám, chữa bệnh chất lượng cao chưa phát triển; cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực y tế đã được tăng cường nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu. Xã hội hóa y tế phát triển chậm, y tế công cộng, y tế dự phòng chưa được đầu tư đúng mức.

Văn hóa chưa thật sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực của sự phát triển bền vững. Sự xuống cấp về một số mặt văn hóa, đạo đức, lối sống của một bộ phận trong xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi.

Nhiều công trình, giá trị văn hóa truyền thống của các địa phương, các dân tộc chưa được khai thác, phát huy, chưa trở thành nguồn lực cho sự phát triển. Công tác quản lý, sử dụng các thiết chế văn hóa, thể thao ở một số địa phương hiệu quả chưa cao. Chế độ đãi ngộ đối với văn nghệ sĩ, người làm công tác văn hóa, nghệ thuật còn thấp.

Quản lý nhà nước về lĩnh vực thông tin truyền thông vẫn còn hạn chế, vi phạm trên môi trường mạng còn nhiều. Phát triển chính quyền điện tử chưa đáp ứng yêu cầu; nhân lực đảm bảo an toàn, an ninh mạng thiếu, nhất là trong các cơ quan Đảng, Nhà nước.

Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thật sự trở thành động lực chính để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh. Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học sử dụng kinh phí ngân sách chưa thiết thực, chất lượng, hiệu quả thấp. Cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo vừa thiếu vừa không đồng bộ. Năng lực tiếp cận các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư còn hạn chế. Chất lượng nhân lực lĩnh vực khoa học và công nghệ chưa đáp ứng được yêu cầu.

Chất lượng môi trường đô thị, nông thôn chưa được cải thiện nhiều. Hạ tầng thu gom, xử lý nước thải chưa được đầu tư đồng bộ. Chưa xây dựng được nhà máy xử lý rác thải tập trung, đài hóa thân, nghĩa trang tập trung của tỉnh.

1.4. Về công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng và cải cách tư pháp

Công tác nắm bắt, dự báo, tham mưu, phối hợp xử lý tình hình phức tạp ở cơ sở có lúc, có nơi, có việc chưa sâu, chưa kịp thời. Tội phạm, tệ nạn xã hội vẫn còn tiềm ẩn phức tạp. Việc thực hiện tranh tụng trong xét xử theo tinh thần cải cách tư pháp một số vụ còn hạn chế. Hiện tượng “tham nhũng vặt” còn diễn ra ở một số cán bộ, công chức, viên chức; số vụ việc tham nhũng phát hiện qua thanh tra, kiểm tra còn ít.

1.5. Về xây dựng chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội

Hoạt động của chính quyền một số nơi chưa thực sự hiệu lực, hiệu quả. Cải cách hành chính chuyển biến còn chậm, có mặt còn hình thức, chưa đáp ứng yêu cầu; chất lượng thực thi công vụ, thái độ phục vụ của một số cán bộ, công chức, viên chức chưa tốt; vẫn còn tình trạng thờ ơ, vô cảm, né tránh trách nhiệm, thậm chí gây khó khăn, phiền hà, sách nhiễu doanh nghiệp và người dân.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội chưa thật sự phát huy đầy đủ vị trí, vai trò của mỗi tổ chức thành viên. Nhiều hoạt động, các cuộc vận động, phong trào thi đua còn chưa có chiều sâu, chưa gắn với nhu cầu thực tiễn của từng địa phương, đơn vị. Hoạt động giám sát, phản biện xã hội còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, nhất là ở cấp cơ sở.

2. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém

2.1. Nguyên nhân khách quan

Tình hình thế giới, khu vực biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường; toàn cầu hóa, tự do thương mại, bảo hộ của các nước lớn, áp lực cạnh tranh và việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế khi hội nhập là thách thức rất lớn. Thu hút vốn đầu tư những năm gần đây có sự cạnh tranh gay gắt giữa các địa phương lân cận và trong vùng; lợi thế về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng của tỉnh không còn nhiều.

Một số quy định pháp luật còn chồng chéo, nội dung chưa rõ ràng và thường xuyên điều chỉnh, thay đổi gây khó khăn trong áp dụng.

Dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu rất khó lường, gây ảnh hưởng, tác động tiêu cực đến sản xuất, kinh doanh, sức khỏe, cuộc sống của người dân.

2.2. Nguyên nhân chủ quan

Nhận thức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và ý thức trách nhiệm của một số cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu còn hạn chế; công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong một số nhiệm vụ chưa quyết liệt, chưa kịp thời, thiếu chủ động, nhạy bén, sáng tạo.

Việc phân cấp, phân quyền còn chưa sâu, chưa rõ, chưa gắn với việc phân bổ kinh phí, phân công trách nhiệm ở một số cấp và ngành, có mặt còn nhiều bất cập. Việc lãnh đạo chỉ đạo công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình trong tổ chức hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu.

Năng lực thể chế hóa các chủ trương thành cơ chế, chính sách cụ thể và khâu tổ chức thực hiện còn yếu, thiếu sáng tạo, thiếu tính thực tiễn. Thiếu cơ chế, chính sách đột phá để huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển.

Vai trò, trách nhiệm, của một số người đứng đầu, tính chiến đấu, tính tiền phong gương mẫu của một số cán bộ, đảng viên còn thấp, thiếu ý chí, khát vọng vươn lên, chậm hoặc ngại đổi mới, sáng tạo, né tránh, ngại va chạm, ngại trách nhiệm.

III. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Đánh giá tổng quát

Nhìn lại tổng thể 5 năm qua, trong bối cảnh thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, cùng quân và dân trong tỉnh đã nỗ lực phấn đấu, đạt được những kết quả quan trọng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu trong nhiệm kỳ vừa qua đạt và vượt mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI.

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu thực hiện có hiệu quả. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng được nâng lên. Khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố, mối quan hệ giữa Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước được giữ vững và tăng cường, nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đã đóng góp quan trọng, cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá, mức tăng cao hơn giai đoạn trước và cao hơn so với bình quân cả nước; môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện, thu hút đầu tư đạt cao; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường, nhiều công trình, dự án lớn được đầu tư và đi vào hoạt động; diện mạo đô thị, nông thôn có nhiều khởi sắc. Văn hóa, xã hội có chuyển biến tích cực, đạt được nhiều tiến bộ; giáo dục luôn xếp trong tốp đầu cả nước; công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của Nhân dân được đảm bảo. An sinh xã hội được mở rộng, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được nâng lên. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh; tư tưởng, chính trị, xã hội ổn định; sắp xếp tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế đạt những kết quả quan trọng; hiệu lực quản lý nhà nước có chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, đó là: Kinh tế phát triển chưa thực sự bền vững; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao; kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xã hội chưa hiện đại; chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển; khoa học công nghệ chưa là động lực quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất; kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể còn có những yếu kém; thu nhập thực tế của người dân chưa tương xứng với sự phát triển kinh tế của tỉnh; môi trường chưa được cải thiện nhiều; cải cách hành chính, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn hạn chế; năng lực, trình độ, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa đáp ứng yêu cầu. Một số tổ chức đảng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của còn thấp, sinh hoạt đảng chất lượng chưa cao.

2. Một số bài học kinh nghiệm

Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý xây dựng và phát triển toàn diện tỉnh Vĩnh Phúc sau 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhằm tiếp tục phát triển những tiền đề căn bản, quan trọng về tư duy, tầm nhìn, quyết sách và thành quả phát triển của nhiệm kỳ 2010 – 2015 ở một mức độ mới trong nhiệm kỳ 2015 - 2020, bước đầu có thể rút ra 5 bài học kinh nghiệm chủ yếu sau:

Một là, Gắn kết chặt chẽ giữa công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Quyết liệt trong đổi mới tư duy, nội dung và phương thức lãnh đạo, chỉ đạo; tăng cường kỷ luật, kỷ cương; củng cố, xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị. Kế thừa, phát huy truyền thống năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tính tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu và cán bộ, đảng viên; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ bản lĩnh chính trị, năng lực, phẩm chất, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

Hai là, Quán triệt quan điểm “Dân là gốc” là mục tiêu, đồng thời là động lực cho sự phát triển; tăng cường mối quan hệ gắn bó, mật thiết với Nhân dân; phát huy vai trò của Nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và phát triển kinh tế - xã hội.

Ba là, Trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, năng động, sáng tạo, tích cực, cách làm bài bản, dân chủ, chắc chắn, có bước đi thích hợp. Xác định đúng trọng tâm, trọng điểm, khâu đột phá.

Bốn là, Quán triệt quan điểm phát triển toàn diện, phát triển hài hòa trên cả ba trụ cột: Kinh tế - Xã hội - Môi trường, lấy sự ổn định và tăng trưởng kinh tế bền vững là mục tiêu xuyên suốt; trong đó phát triển công nghiệp là nền tảng, động lực của nền kinh tế; tập trung phát triển các ngành dịch vụ, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh; phát triển nông nghiệp, nông thôn toàn diện.

Năm là, Phát huy lợi thế của tỉnh, nằm trong vùng 3 quy hoạch: Vùng đồng bằng sông Hồng, Vùng Thủ đô và Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Phải đảm bảo hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, con người, giải quyết các vấn đề xã hội, không ngừng cải thiện, nâng cao thu nhập và phúc lợi của nhân dân; đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Phần thứ hai

ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ

VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHIỆM KỲ 2020-2025

I. DỰ BÁO TÌNH HÌNH

1. Tình hình quốc tế và trong nước

Tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó lường; cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại giưac các nước lớn, xung đột diễn ra dưới nhiều hình thức gay gắt hơn. Đại dịch Covid – 19 ảnh hưởng rất nặng nề đến tất cả các nước trên thế giới, nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới đang rơi vào suy thoái nghiêm trọng, triển vọng phục hồi hiện còn bất định. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Khu vực Đông Nam Á, môi trường an ninh, tình hình tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông tiếp tục diễn ra phức tạp.

Các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới [24] mà Việt Nam tham gia sẽ tạo cơ hội thu hút các nguồn vốn, công nghệ, thị trường xuất khẩu cho đất nước, nhưng cũng đi liền với sức ép cạnh tranh ngày càng quyết liệt hơn. Nhiều khó khăn, yếu kém nội tại của nền kinh tế chưa được khắc phục, sức đề kháng của nền kinh tế thấp, già hóa dân số diễn ra nhanh trong khi năng suất lao động vẫn còn thấp. Biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh, đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững của đất nước.

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vẫn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định, nhiều thách thức về an ninh phi truyền thống đang nổi lên. Sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động ngày càng tinh vi, nguy hiểm, phức tạp hơn trong điều kiện mới. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn diễn biến phức tạp.

2. Tình hình trong tỉnh

2.1. Những thuận lợi

Vĩnh Phúc là vùng đất giàu truyền thống văn hoá, cách mạng và luôn có tư duy đổi mới, sáng tạo, nhiều sáng kiến đi đầu trong cả nước. Hiện nay, tỉnh đã có mức phát triển kinh tế khá cao theo hướng công nghiệp, môi trường đầu tư ổn định, có nhiều kinh nghiệm trong thu hút đầu tư, nhiều nhà đầu tư lớn, trong đó có các tập đoàn hàng đầu thế giới đã đầu tư tại tỉnh; đã tạo dựng được uy tín, thương hiệu của tỉnh.

Vĩnh Phúc nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Vùng thủ đô, hệ thống giao thông kết nối với Hà Nội và các tỉnh trong vùng rất thuận lợi, hệ thống cơ sở hạ tầng trong các lĩnh vực đã được quy hoạch và đầu tư khá đồng bộ; có những địa danh du lịch, di chỉ văn hoá nổi tiếng; điều kiện địa chất, khí hậu tốt, ít chịu sự tác động lớn của thiên tai.

Những thành tựu, kinh nghiệm sau gần 24 năm tái lập tỉnh đã tạo thế và lực mới để Vĩnh Phúc tiếp tục sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ, sự ổn định về chính trị, xã hội tiếp tục là điều kiện, nền tảng cơ bản, quan trọng để Vĩnh Phúc tiếp tục phát triển nhanh, bền vững trong các năm tới.

 

 

Dư địa và không gian cho phát triển không còn nhiều (đặc biệt là đất đai, tài nguyên). Địa kinh tế không còn là thế mạnh của Vĩnh Phúc như trước đây vì sự phát triển của hệ thống giao thông quốc gia. Khả năng tìm kiếm động lực tăng trưởng mới mang tính đột phá trong bối cảnh hiện nay là rất khó.

Chất lượng nguồn nhân lực vẫn còn thấp, thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nhân lực đáp ứng được các yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và yêu cầu hội nhập quốc tế.

Công tác BTGPMB gặp nhiều khó khăn, kéo dài, chi phí sử dụng hạ tầng công nghiệp đang ngày càng cao ảnh hưởng đến thu hút đầu tư.

Khu vực kinh tế tư nhân chủ yếu quy mô vừa, nhỏ và siêu nhỏ, năng lực cạnh tranh, trình độ quản trị thấp, khả năng tiếp cận các nguồn lực hạn chế.

Tình hình thế giới, đất nước và của tỉnh đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới, đòi hỏi toàn Đảng bộ, hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân phải nâng cao quyết tâm chính trị, phát huy trí tuệ, năng động, sáng tạo, nỗ lực hơn nữa, hun đúc khát vọng, tranh thủ thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của tỉnh giai đoạn 2020-2025 và những năm tiếp theo.

II. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN

1. Quan điểm, định hướng phát triển

1.1- Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn; nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cấp chính quyền; xây dựng đội ngũ cán bộ, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với Nhân dân. Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, truyền thống cách mạng của các tầng lớp nhân dân các dân tộc Vĩnh Phúc.

1.2- Phát huy tối đa, hiệu quả các tiềm năng, lợi thế, dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để phát triển nhanh và bền vững kinh tế - xã hội của tỉnh phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và của Vùng; tiếp tục nâng cấp các nền tảng công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp để tiếp tục duy trì vị thế, nỗ lực vươn lên nhóm các địa phương tăng trưởng kinh tế cao, ổn định của cả nước.

1.3- Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần, ý chí, khát vọng phát triển, khát vọng làm giàu và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân để hướng đến mục tiêu tăng trưởng bao trùm và bền vững, hài hòa dựa trên 3 trụ cột: Kinh tế - Xã hội - Môi trường; đảm bảo an sinh, phúc lợi xã hội, nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân; huy động, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, trong đó phát huy nội lực là chính, nhất là nguồn nhân lực; bám sát quy hoạch, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; nâng cao chất lượng tăng trưởng, lấy công nghiệp làm nền tảng, phát triển theo hướng ứng dụng công nghệ cao, xanh, sạch; tập trung phát triển dịch vụ, thúc đẩy du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; phát triển nông nghiệp công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn.

1.4- Phát triển phải luôn đặt con người vào vị trí trung tâm và không để ai bị bỏ lại phía sau. Tạo dựng nền tảng và xây dựng hệ thống thể chế theo hướng hiện đại, hội nhập, đồng bộ, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả, khuyến khích đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Tận dụng các cơ hội bên ngoài, vận dụng sáng tạo trong điều kiện Vĩnh Phúc, phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước.

1.5- Chú trọng phát triển nguồn nhân lực. Thực hiện cải cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục và đào tạo nhằm phát triển kỹ năng của học sinh, sinh viên và người lao động. Chuyển từ tư duy tận dụng lợi thế lao động giá rẻ sang tư duy phát huy lao động có kỹ năng và năng suất. Đầu tư và khuyến khích đầu tư cho khoa học và công nghệ, tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển để tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ, đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh và đời sống của người dân; nắm bắt cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

1.6- Chú trọng phát triển văn hóa, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của Nhân dân gắn với đảm bảo công bằng, tiến bộ xã hội. Gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường; cải thiện rõ rệt chất lượng môi trường và điều kiện sống của Nhân dân theo hướng xanh, sạch và thân thiện môi trường. Tăng cường tiềm lực an ninh - quốc phòng, đảm bảo chủ động ứng phó với tất cả các thách thức trong mọi tình huống.

2. Mục tiêu tổng quát

Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Khai thác, phát huy mọi tiềm năng, lợi thế cho phát triển, trọng tâm là phát triển công nghiệp, dịch vụ, du lịch; phát huy sức sáng tạo, ý chí, khát vọng phát triển của mỗi người dân; thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; khai thác những động lực mới cho tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ; khai thông và huy động, sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực; tăng cường quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Phát triển văn hóa, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân gắn với đảm bảo công bằng, tiến bộ xã hội. Giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, đảm bảo an ninh và trật tự an toàn xã hội.

Phấn đấu đến năm 2025: Vĩnh Phúc là tỉnh công nghiệp phát triển, một trong những trung tâm công nghiệp, dịch vụ, du lịch của vùng và cả nước; thu nhập bình quân đầu người cao hơn cả nước, đạt mức 80-85 triệu đồng; kết cấu hạ tầng đô thị Vĩnh Phúc cơ bản đạt tiêu chí đô thị loại I, làm tiền đề để tỉnh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương; trong đó, kết cấu hạ tầng đô thị Bình Xuyên, Vĩnh Tường, Tam Đảo cơ bản đạt các tiêu chí của đô thị loại IV, làm tiền đề để thành lập các thị xã.

Đến năm 2030: Xây dựng Vĩnh Phúc thành tỉnh phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại; kinh tế, xã hội phát triển toàn diện, bền vững; chất lượng cuộc sống của nhân dân tốt, môi trường sống xanh, sạch, an toàn. Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh đạt 130 - 135 triệu đồng.

[24] CPTPP (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương), EVFTA (Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu), EVIPA (Hiệp định Bảo hộ đầu tư).

 

Tầm nhìn đến năm 2045: Vĩnh Phúc là thành phố phát triển toàn diện trên tất cả các mặt về kinh tế, xã hội, môi trường; là nền kinh tế có thu nhập cao, người dân có chất lượng cuộc sống cao, nền văn hóa tiến bộ, giàu bản sắc, xã hội phát triển hài hòa, môi trường tự nhiên trong lành, đáng sống.

3. Các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2025

3.1- Về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị

(1). Số đảng viên kết nạp đảng hằng năm đạt 2.000 đảng viên trở lên.

(2). Tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên hằng năm đạt trên 85%.

(3). Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên bình quân hằng năm đạt trên 90%.

(4). Tỷ lệ chính quyền cơ sở hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên bình quân hằng năm đạt 80%.

3.2- Về phát triển kinh tế

(1). Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân tăng 8,5 - 9,0%/năm, trong đó: Công nghiệp - xây dựng tăng 11,5 – 12,0%/năm; dịch vụ tăng 8,0 - 8,5%/năm; nông lâm nghiệp, thủy sản tăng 1,5 - 2%/năm.

(2). Cơ cấu kinh tế: Công nghiệp - xây dựng chiếm 61,5- 62,0%; dịch vụ chiếm 32- 32,5%; nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 6 - 6,5%.

(3). GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 130 - 135 triệu đồng (giá hiện hành).

(4). Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn hằng năm đạt 30-35% GRDP theo giá hiện hành.

(5). Thu ngân sách nhà nước tăng bình quân 6 - 8%/năm.

(6). Thu hút thêm vốn đầu tư (5 năm): 2,0 - 2,5 tỷ USD vốn FDI và 20- 25 nghìn tỷ đồng vốn DDI.

(7). Tốc độ tăng năng suất lao động đạt trên 11%/năm.

(8). Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt khoảng 50% .

(9). Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2025 đạt 50%.

3.3- Về phát triển văn hóa - xã hội

(1). Tạo việc làm tăng thêm hằng năm từ 16.000-17.000 việc làm mới.

(2). Phấn đấu tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều theo chuẩn mới còn dưới 1%.

(3). Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 82%, trong đó lao động qua đào tạo được cấp bằng, cấp chứng chỉ đạt 40%.

(4). Tỷ lệ trường chuẩn quốc gia (theo chuẩn mới) đạt 70% trở lên ở tất cả các cấp học.

(5). Đạt 15 bác sỹ/vạn dân, 40 giường bệnh/vạn dân. Tỷ lệ dân số có bảo hiểm y tế đạt trên 95%;

(6). Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội đạt 45% lực lượng lao động;

(7). 100% thủ tục hành chính đáp ứng yêu cầu, được triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; 75% hồ sơ được giải quyết theo dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trên tổng số hồ sơ.

(8). Diện tích nhà ở bình quân đến năm 2025 đạt 31,3 m² sàn/người.

(9). Đến năm 2022, toàn bộ các huyện đạt chuẩn nông thôn mới; có 40% số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; có ít nhất 01 huyện đạt nông thôn mới nâng cao; 10% số xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.

(10). Tai nạn giao thông giảm trên cả 03 tiêu chí (số vụ, số người chết và số người bị thương), đạt tỷ lệ giảm hàng năm từ 5-10%;

3.3- Về bảo vệ và phát triển môi trường

(1). Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải sinh hoạt đạt quy chuẩn môi trường ở khu vực đô thị đạt 97% và khu vực nông thôn đạt 80%. Tỷ lệ chất thải nguy hại và chất thải y tế được xử lý 100%. Tỷ lệ bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt đã đóng cửa được cải tạo, xử lý, tái sử dụng đạt trên 95%.

(2). Tỷ lệ dân số đô thị (thành phố, thị xã, thị trấn) được cấp nước sạch từ hệ thống cấp nước tập trung đạt 85%.

(3). Tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn 02/BHYT đạt 70%.

(4). Tỷ lệ cụm công nghiệp (đang hoạt động hoặc xây dựng mới) có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn 100%.

(5). Tỷ lệ che phủ rừng ổn định 25%.

III. NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng

1.1- Chủ động và thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách toàn diện và hiệu quả

Kết hợp chặt chẽ, đồng bộ, toàn diện, hiệu quả giữa xây dựng và chỉnh đốn Đảng, trong đó xây dựng Đảng là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài; chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách. Chú trọng xây dựng, chỉnh đốn Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; đồng thời xây dựng chính quyền, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội trong sạch, vững mạnh toàn diện. Tăng cường củng cố, xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị. Kế thừa và phát huy truyền thống năng động, sáng tạo, mạnh dạn đột phá, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu của người đứng đầu và cán bộ, đảng viên. Giữ vững nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức đảng. Quyết liệt trong đổi mới tư duy, nội dung và phương thức lãnh đạo; tăng cường kỷ luật, kỷ cương; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ bản lĩnh chính trị, năng lực, phẩm chất, uy tín để lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ.

1.2- Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, đạo đức

Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng và rèn luyện để mỗi cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng đều thấm nhuần và kiên định Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới của Đảng; những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Giữ vững lập trường, bản lĩnh chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên mà trước hết là cán bộ, lãnh đạo quản lý chủ chốt các cấp. Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở địa phương, cơ quan, đơn vị.

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng khoa học, thiết thực, kịp thời và hiệu quả. Tăng cường dự báo, chủ động nắm bắt, xử lý thông tin, định hướng dư luận, tạo sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng, đồng thuận trong xã hội. Phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức đảng trong việc quán triệt và triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết; nâng cao hiệu quả công tác quán triệt, tuyên truyền, học tập chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ phát triển của tỉnh, tạo sự thống nhất cao về tư tưởng và hành động trong Đảng bộ, trong Nhân dân. Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch.

Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, xây dựng văn hóa trong chính trị. Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước cho cán bộ, đảng viên. Cụ thể hóa các chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị. Nêu cao tính tiền phong, gương mẫu, phẩm giá, lòng tự trọng, danh dự và bổn phận, trách nhiệm của người đảng viên trong mọi hoạt động. Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về xây dựng, chỉnh đốn đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thực hiện tốt các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ, đưa việc nêu gương trở thành việc làm tự giác, thường xuyên. Đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi hoạt động của Đảng, tạo môi trường và yêu cầu đối với cán bộ, đảng viên tu dưỡng phẩm chất đạo đức, xây dựng phong cách làm việc và ứng xử văn hóa để mỗi cán bộ, đảng viên trở thành một tấm gương sáng về đạo đức, văn hóa. Kịp thời biểu dương những tấm gương sáng, đồng thời xử lý nghiêm những hành vi vi phạm đạo đức, lối sống.

1.3- Nâng cao chất lượng công tác tổ chức, xây dựng Đảng; tổ chức bộ máy và công tác cán bộ

Tiếp tục xây dựng Đảng bộ tỉnh vững mạnh về tổ chức, thực hiện tốt các nghị quyết của Trung ương về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả trên cơ sở sơ kết, tổng kết việc thực hiện trong nhiệm kỳ vừa qua, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới.

Chú trọng tạo nguồn, nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên, nhất là trong các loại hình doanh nghiệp, khu vực nông thôn. Thực hiện tốt các quy định, nguyên tắc của Đảng về quản lý các tổ chức Đảng cấp dưới; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên. Kiên quyết rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Đảng.

Chủ động phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ nhằm tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp có đủ phẩm chất, năng lực, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân. Tạo môi trường, điều kiện để khuyến khích, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo; xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung. Nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi cán bộ phù hợp với thực tiễn của tỉnh, nhất là cán bộ trẻ, cán bộ nữ. Thực hiện hiệu quả chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, sử dụng chuyên gia giỏi ở các lĩnh vực. Công tâm, khách quan trong đánh giá, sử dụng cán bộ; kiên quyết không bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị không vững vàng, thiếu gương mẫu, mất đoàn kết, cục bộ, bè phái, cơ hội, phẩm chất, năng lực, uy tín giảm sút; có biểu hiện chạy chức, chạy quyền, thiếu gắn bó với Nhân dân, kết quả thực hiện nhiệm vụ không cao. Thực hiện tốt các quy định về kiểm soát quyền lực, nhất là trong công tác cán bộ. Thực hiện từng bước việc thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý ở một số chức danh khi đủ điều kiện, tạo môi trường, động cơ, khát vọng cho cán bộ, đảng viên phấn đấu. Tiếp tục thực hiện mô hình một số chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp huyện, cấp xã không phải người địa phương.

1.4- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng

Mỗi cấp ủy, nhất là người đứng đầu phải có tư duy, nhận thức đúng đắn về vị trí quan trọng, không “coi nhẹ”, “buông lỏng” công tác kiểm tra, giám sát. Các cấp ủy, Ủy ban kiểm tra các cấp phải quyết liệt, chủ động thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của đảng với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”; với quan điểm “giám sát phải mở rộng”; “kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm”, xem xét, xử lý kỷ luật “công minh, chính xác, kịp thời”.

Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng phải được tiến hành thường xuyên, toàn diện, đồng bộ đảm bảo đúng nguyên tắc, thủ tục, quy trình, nhằm thực hiện tốt các yêu cầu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đó là: Kiểm tra, giám sát để làm tốt việc phòng ngừa vi phạm và kịp thời phát hiện, phát huy nhân tố mới, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm từ khi mới manh nha; xử lý kỷ luật phải đảm bảo tính nghiêm minh, chính xác, kịp thời để răn đe và giáo dục. Thực hiện nghiêm nguyên tắc các tổ chức đảng và đảng viên phải chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng và chịu sự giám sát của Nhân dân thông qua MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Thường xuyên tiến hành kiểm tra, giám sát việc chấp hành Điều lệ Đảng, quy chế làm việc, các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết và quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tập trung kiểm tra, giám sát những lĩnh vực dễ xảy ra vi phạm, như: đầu tư xây dựng, quản lý, sử dụng đất đai, tài chính… kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, các cơ quan quản lý ở các cấp về năng lực lãnh đạo, quản lý, thực hiện quy chế; về phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách và tính tiên phong, gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ.

Phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các cơ quan kiểm tra, thanh tra và các cơ quan quản lý nhà nước, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội trong hoạt động kiểm tra, giám sát để nâng cao chất lượng, hiệu quả, tránh chồng chéo, trùng lặp; phát huy vai trò của người đứng đầu Ủy ban kiểm tra các cấp gắn với vai trò của cơ quan tham mưu trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.

1.5- Đổi mới nội dung, phương pháp, chất lượng công tác dân vận

Công tác dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị; các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu cần xác định công tác dân vận là công việc trọng yếu, thường xuyên trong mọi hoạt động vì chỉ có sự ủng hộ của Nhân dân và làm tốt công tác dân vận mới thành công. Mọi công việc phải xác định lấy dân làm gốc, thực sự tin tưởng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, lấy nhân dân làm trung tâm, là chủ thể của chính sách. Quan tâm lãnh đạo cụ thể hóa và thực hiện tốt cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ với phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng".

Đổi mới công tác dân vận theo hướng thiết thực, cụ thể với cách làm sáng tạo, hướng đến mục tiêu đồng thuận, củng cố và nhân lên niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân. Tập trung làm tốt công tác dân vận chính quyền; phát huy vai trò, sự tham gia của Nhân dân trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; tăng cường đối thoại, tiếp xúc với Nhân dân, sâu sát cơ sở, lắng nghe tâm tư, kịp thời giải quyết nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của Nhân dân.

Tiếp tục lãnh đạo đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, nâng cao chất lượng phong trào thi đua “Dân vận khéo”, tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng mô hình, điển hình về công tác dân vận; thực hiện tốt Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị.

1.6- Tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí

Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm các giải pháp về phòng ngừa tham nhũng, ngăn chặn “lợi ích nhóm”; khắc phục “tư duy nhiệm kỳ”. Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao trách nhiệm, trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt của người đứng đầu cấp ủy; xây dựng và cụ thể hóa các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm của người đứng đầu, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; thực hiện chủ trương, quy định về bảo vệ, khuyến khích người đứng đầu tự kiểm tra, phát hiện tham nhũng trong nội bộ và khuyến khích, bảo vệ người tố cáo, tích cực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực.

Kiện toàn tổ chức, bộ máy, cán bộ đảm bảo trong sạch; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng. Kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những hành vi tham nhũng, lãng phí ở những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh vi phạm (quản lý và sử dụng đất đai, tài chính ngân sách, đầu tư xây dựng cơ bản, thực hiện chính sách xã hội…) và những việc liên quan đến quyền lực, tổ chức bộ máy, cán bộ,…

Đổi mới và góp phần xây dựng cơ chế, chính sách để phát hiện, kiểm soát nhằm ngăn chặn lãng phí và chống tham nhũng, dưới mọi hình thức, trên mọi phương diện, mức độ đối với bất cứ cá nhân, tổ chức nào trong hệ thống chính trị; mở rộng, bổ sung nội dung công tác phòng, chống tham nhũng trong kinh tế ngoài khu vực nhà nước.

Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội, đại biểu dân cử và Nhân dân, các cơ quan truyền thông, báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

1.7- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan Đảng

Các cấp ủy trong tỉnh cần quán triệt quan điểm: Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền là nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của Đảng. Tiếp tục nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng. Bám sát các chủ trương, nghị quyết, hướng dẫn của Trung ương và căn cứ điều kiện, hoàn cảnh thực tế của địa phương để xây dựng và ban hành nghị quyết đảm bảo tính khả thi, chất lượng, rõ ràng, đáp ứng và giải quyết được những yêu cầu của thực tiễn. Tăng cường hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn trong Đảng. Thực hiện việc lấy ý kiến đóng góp và phản biện của các cơ quan, của Nhân dân trong quá trình xây dựng các nghị quyết.

Tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát, hướng dẫn việc phân cấp, phân quyền, tạo chủ động cho cấp dưới của các cơ quan hành chính nhà nước. Tăng cường trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm của người đứng đầu theo phân cấp, phân quyền.

Đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng. Trong đó, lựa chọn các vấn đề bức xúc, nổi cộm hoặc hạn chế, yếu kém ở địa phương, cơ quan, đơn vị để tập trung giải quyết theo phương châm: rõ việc, rõ người chịu trách nhiệm, rõ thời gian hoàn thành. Nâng cao chất lượng xây dựng, thực hiện nghiêm các quy chế làm việc.

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội. Thực hiện nghiêm việc Đảng lãnh đạo chính quyền bằng chủ trương, nghị quyết; lãnh đạo chính quyền cụ thể hóa các chủ trương của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp trong tỉnh thành các cơ chế, kế hoạch, chương trình, đề án để thực hiện; tăng cường giao nhiệm vụ, đặt hàng, đưa ra yêu cầu đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với Nhân dân.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của Đảng bộ để nâng cao năng suất và hiệu quả công tác. Nâng cao trình độ công nghệ thông tin cho cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị, nhất là các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc cấp ủy tỉnh, huyện. Đào tạo, tập huấn về công nghệ thông tin; tăng cường họp, đối thoại, trao đổi trực tuyến. Nâng cấp trang, thiết bị và chất lượng đường truyền internet cho các cơ quan Đảng, chính quyền các cấp.

2. Phát triển kinh tế

2.1- Tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế nhanh và bền vững, tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế

Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế từ chiều rộng sang kết hợp giữa chiều rộng với chiều sâu, trọng tâm là tăng năng suất lao động, hàm lượng khoa học và công nghệ cao; nâng cao năng lực quản trị; thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Đẩy nhanh ứng dụng thành quả cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào sản xuất, kinh doanh và quản lý xã hội.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt phát triển dịch vụ chất lượng cao. Tiếp tục khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ; duy trì phát triển các ngành sản xuất và lắp ráp phụ tùng ô tô, xe máy; linh kiện điện tử; các sản phẩm điện tử hoàn chỉnh... là công nghiệp mũi nhọn. Thu hút đầu tư để lấp đầy các khu, cụm công nghiệp hiện có, bổ sung quy hoạch, phát triển các khu, cụm công nghiệp mới ở những nơi có lợi thế như: Khu công nghiệp Đồng Sóc, Khu công nghiệp Sơn Lôi, Cụm công nghiệp Yên Lạc, Xuân Lôi... Xây dựng chính sách đặc thù để thu hút đầu tư các dự án có quy mô đầu tư lớn, sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng và hàm lượng công nghệ cao, quy mô sử dụng đất thấp.

Phát triển dịch vụ thương mại theo hướng văn minh, hiện đại cùng với hệ thống chợ truyền thống; khuyến khích, xây dựng cơ chế hỗ trợ hoạt động thương mại điện tử trên địa bàn. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ trong các hoạt động tài chính, tín dụng, bảo hiểm, thu thuế, dịch vụ thanh toán, thương mại. Khuyến khích đầu tư các dự án xây dựng các trung tâm thương mại lớn, bệnh viện, lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng, Trung tâm logistics, các trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao, các trường đại học, trung tâm ngoại ngữ, các cơ sở văn hóa, các trường tư thục trên địa bàn.

Tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tập trung vào phát triển du lịch tâm linh, kết hợp du lịch nghỉ dưỡng có chất lượng cao. Làm tốt quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết phát triển du lịch; xây dựng thương hiệu sản phẩm du lịch gắn các giá trị văn hóa, lịch sử, bản sắc dân tộc. Ưu tiên xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ các khu, điểm du lịch trọng điểm; khuyến khích các nhà đầu tư lớn đầu tư vào lĩnh vực du lịch khu vực Tam Đảo, Tây Thiên, Ngọc Thanh, Đầm Vạc, Sáu Vó, các khu vực lợi thế; hỗ trợ các hoạt động du lịch, các tuyến du lịch kết nối với các khu du lịch trên toàn quốc và khu vực…

Tiếp tục đầu tư cho phát triển nông, lâm nghiệp, thủy sản; đẩy mạnh dồn thửa, đổi ruộng và ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất, nhất là công nghệ sinh học, bảo đảm chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường. Gắn kết các chủ thể trong chuỗi giá trị sản xuất với chế biến, tiêu thụ nông sản; lựa chọn chất lượng cây trồng gắn phát triển vùng sản xuất tập trung hiệu quả. Xây dựng cơ chế chính sách để đưa chăn nuôi tập trung ra khỏi khu dân cư gắn xử lý môi trường theo quy hoạch; đề án cơ cấu lại sản xuất ngành nông nghiệp theo hướng ứng dụng khoa học kỹ thuật, sản xuất hàng hoá gắn kết với tổ chức thị trường, chế biến và xuất khẩu. Thực hiện cơ chế hỗ trợ, khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, tạo môi trường thuận lợi để hình thành và phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp nông thôn.

2.2- Phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của các thành phần kinh tế, chú trọng phát triển kinh tế tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ

Khuyến khích phát triển đồng đều các thành phần kinh tế; thực hiện phương châm “Đồng hành cùng doanh nghiệp”, bảo vệ quyền tài sản, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi nhất cho doanh nghiệp, không phân biệt đối xử, đảm bảo tính bình đẳng trước pháp luật về quyền lợi và cơ hội kinh doanh. Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện qua mạng 100% các thủ tục đăng ký kinh doanh, thành lập doanh nghiệp, điều chỉnh giấy phép, tăng giảm vốn, các thủ tục, giấy tờ liên quan khác đến hoạt động doanh nghiệp. Có cơ chế ưu đãi lãi suất tín dụng, giá thuê đất linh hoạt cho doanh nghiệp khởi nghiệp. Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận tín dụng, tiếp cận đất đai, giảm chi phí gia nhập thị trường; giải quyết kịp thời các vướng mắc, kiến nghị hợp lý của các nhà đầu tư. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đôn đốc các dự án chậm tiến độ đã cam kết; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật.

Tập trung cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước và hoàn thành việc thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp; đổi mới các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tự chủ hoàn toàn khi đủ điều kiện; triển khai việc chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần. Tăng cường chuyển đổi mô hình hoạt động các hợp tác xã theo đúng Luật Hợp tác xã. Hỗ trợ, hướng dẫn để phát triển kinh tế tập thể, kinh tế hộ hoạt động hiệu quả. Hỗ trợ hình thành các mô hình sản xuất mới trong nông nghiệp, gắn kết giữa người nông dân với doanh nghiệp.

Khuyến khích, hỗ trợ để hộ gia đình, cá thể kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp. Khuyến khích hình thành các doanh nghiệp lớn như một đầu tàu dẫn dắt các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân. Phấn đấu mỗi năm có từ 1.000-1.500 doanh nghiệp thành lập mới.

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài theo hướng có chọn lọc theo đúng tinh thần Nghị quyết số 50-NQ/TW, ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị, theo đó ưu tiên thu hút các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ sạch, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan tỏa, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Hạn chế tối đa thu hút đầu tư các lĩnh vực khai thác khoáng sản, tài nguyên thiên nhiên, sử dụng nhiều đất đai.

2.3- Nâng cao chất lượng lập, quản lý và thực hiện quy hoạch. Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, gắn xây dựng kết cấu hạ tầng khung đô thị Vĩnh Phúc. Giữ vững và nâng cao thành quả xây dựng nông thôn mới

Tổ chức lập và triển khai thực hiện Quy hoạch tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, trên cơ sở xác định rõ những tiềm năng, thế mạnh của tỉnh để hướng tới xây dựng đô thị Vĩnh Phúc hiện đại, văn minh, có vai trò quan trọng trong trung tâm phát triển của Vùng thủ đô Hà Nội, xứng tầm trong khu vực và cả nước. Nâng cao chất lượng lập quy hoạch đô thị gắn với tăng cường quản lý thực hiện quy hoạch và quản lý xây dựng đô thị; nâng cao chất lượng kiến trúc cảnh quan đô thị, nhất là các trung tâm đô thị, huyện lỵ, các khu du lịch lớn của tỉnh. Triển khai đề án và xây dựng mô hình đô thị thông minh trên địa bàn tỉnh. Thí điểm xây dựng một số đô thị kiểu mẫu, tạo không gian đặc sắc; xây dựng chương trình phát triển đô thị các huyện, làm tiền đề để thành lập các thị xã khi đủ điều kiện. Tiếp tục rà soát các dự án đô thị đã, đang và chưa triển khai trên địa bàn tỉnh. Kiên quyết xử lý vi phạm của chủ đầu tư, cơ quan quản lý liên quan đến quản lý phát triển đô thị. Ưu tiên thu hút các dự án đô thị, du lịch, thương mại, tài chính, trường đại học, bệnh viện,... chất lượng cao. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thực hiện quy hoạch đô thị và quản lý xây dựng. Từng bước phát triển đô thị thông minh.

Tập trung nguồn lực để đầu tư xây dựng hạ tầng khung đô thị Vĩnh Phúc theo mục tiêu đã đề ra, nhất là các công trình trọng điểm về kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội. Xây dựng, nâng cấp một số tuyến giao thông, các cầu kết nối Vĩnh Phúc với các tỉnh, thành phố lân cận, đáp ứng yêu cầu phát triển, liên kết vùng theo quy hoạch. Hoàn thiện hệ thống trạm, đường dây theo quy hoạch điện lực, trong đó tập trung phục vụ các khu, cụm công nghiệp, các dự án lớn của tỉnh. Tập trung phát triển một số nhà máy nước sạch tại các huyện và phát triển mạng lưới đường ống cấp nước đến các hộ dân.

Tập trung nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới nâng cao, theo chiều sâu, gắn với giá trị nhân văn, bản sắc nông thôn Vĩnh Phúc. Có kế hoạch duy trì đạt chuẩn, nâng cao chất lượng các tiêu chí nông thôn mới; trong đó chú trọng giải quyết vấn đề hình thức tổ chức sản xuất, hạ tầng giao thông; đảm bảo cảnh quan; xử lý ô nhiễm môi trường, rác thải, nước thải; nâng cao hiệu quả sử dụng các thiết chế văn hoá, thể thao ở nông thôn.

2.4- Cải thiện môi trường đầu tư; khai thông nguồn lực, tháo gỡ nút thắt trong phát triển kinh tế

Tập trung sửa đổi, bổ sung, tháo gỡ những cơ chế, chính sách cản trở phát huy, thu hút các nguồn lực của tỉnh; trọng tâm là lĩnh vực đất đai (nhất là về bồi thường, giải phóng mặt bằng; chủ động tạo quỹ đất sạch), thủ tục đầu tư; ứng dụng khoa học - công nghệ; cơ chế chính sách xã hội hoá; đào tạo nguồn nhân lực, thu hút và sử dụng nhân tài, chuyên gia kỹ thuật cao; rà soát, xây dựng lại cơ chế phân bổ nguồn vốn ngân sách theo hướng tập trung, phân cấp phân quyền, có trọng tâm trọng điểm, gắn trách nhiệm người đứng đầu; thu hút dự án có quy mô vốn lớn, giá trị gia tăng cao, hàm lượng công nghệ cao, sử dụng lao động và đất thấp, lương cao cho công nhân, tăng cường thu hút các dự án đầu tư theo hình thức PPP,… Xây dựng các cơ chế đặc thù về giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, huy động, sử dụng vốn đầu tư, xây dựng hạ tầng kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu phát triển cho nền kinh tế. Tổ chức lại các cơ quan xúc tiến đầu tư và đổi mới công tác xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại, du lịch theo nguyên tắc hiệu quả, thông qua doanh nghiệp, cơ quan ngoại giao trong và ngoài nước.

Hoàn thiện cơ chế giải quyết thủ tục hành chính một cửa liên thông “riêng” liên quan đến phát triển doanh nghiệp; cơ chế giám sát trách nhiệm của tổ chức, cá nhân nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp; tiếp tục rà soát loại bỏ hoặc đề xuất các cấp có thẩm quyền loại bỏ những thủ tục hành chính, những quy định không phù hợp, gây khó khăn cho hoạt động đầu tư.

Phấn đấu Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và Chỉ số hiệu quả Quản trị và Hành chính cấp tỉnh (PAPI) hằng năm nằm trong nhóm 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước; Chỉ số Cải cách hành chính cấp tỉnh (Par Index)và Chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông (ICT) hằng năm thuộc nhóm 15 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước.

Quan tâm đầu tư hạ tầng kỹ thuật, chủ động tạo quỹ đất phát triển công nghiệp; lựa chọn các khu công nghiệp có lợi thế, vận dụng các cơ chế chính sách cho giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất sạch để đấu giá, thu hút đầu tư. Sử dụng linh hoạt các nguồn vốn ngân sách nhà nước để đầu tư kết cấu hạ tầng, bồi thường giải phóng mặt bằng các khu, cụm công nghiệp.

Tiếp tục cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả, linh hoạt trong sử dụng nguồn vốn đầu tư công; nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch đầu tư công và chuẩn bị các dự án đầu tư. Nâng cao hiệu quả chi ngân sách, cơ cấu lại chi ngân sách địa phương theo hướng tăng hợp lý tỷ trọng chi đầu tư phát triển, giảm dần tỷ trọng chi thường xuyên gắn với đổi mới mạnh mẽ khu vực sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ và tinh giản bộ máy, biên chế, thực hiện cải cách tiền lương. Tăng cường phân cấp, phân quyền, gắn trách nhiệm của người đứng đầu trong việc sử dụng nguồn lực, phấn đấu đến năm 2025, ít nhất 50% cấp huyện tự cân đối được ngân sách. Củng cố hệ thống các ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, quỹ tín dụng; nghiên cứu áp dụng linh hoạt cơ chế hỗ trợ vay tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.

2.5- Tăng cường quản lý tài nguyên, nhất là đất đai

Thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về đất đai. Nâng cao chất lượng xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đồng bộ với quy hoạch xây dựng, kế hoạch đầu tư công. Tăng cường công tác phối hợp, xác định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của các cấp, các ngành, nhất là cấp cơ sở để quản lý chặt chẽ đất đai theo quy định của pháp luật. Duy trì hợp lý diện tích đất trồng lúa theo quy hoạch, phù hợp với từng địa phương. Ứng dụng mạnh công nghệ thông tin vào quản lý đất đai. Rà soát các dự án đầu tư của các doanh nghiệp có sử dụng đất, kiên quyết xử lý vi phạm theo quy định; tăng cường thực hiện cơ chế nhà nước thu hồi đền bù tạo quỹ đất để đấu giá, hoặc đấu thầu dự án theo quy định.

Giải quyết cơ bản tình trạng lấn, chiếm, sử dụng đất trái phép, những tồn tại lớn về đất đai trong nhiều năm qua, trong đó có việc quản lý, sử dụng đất quốc phòng.

Rà soát tổng thể các dự án về khai thác tài nguyên, phân định trách nhiệm quản lý rõ ràng và xử lý kịp thời vi phạm. Đẩy mạnh điều tra cơ bản, đánh giá, xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên đất, nước, rừng, khoáng sản và đa dạng sinh học; hạn chế tối đa việc khai thác, sử dụng nước ngầm.

3. Phát triển văn hóa - xã hội

3.1- Tập trung phát triển văn hóa, xây dựng con người đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới; phát huy sức sáng tạo, ý chí, hun đúc khát vọng, khát vọng phát triển của mỗi người dân

Thực hiện có hiệu quả Kết luận số 76-KL/TW ngày 04/6/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Trong đó tập trung thực hiện tốt việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc trong tỉnh, các nhân tố tích cực trong văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội. Gắn phát triển văn hóa với phát triển du lịch. Xây dựng con người Vĩnh Phúc phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ; lòng yêu nước; ý chí, khát vọng vươn lên; ngăn chặn sự xuống cấp về đạo đức, lối sống; đẩy lùi cái xấu, tệ nạn xã hội. Bảo đảm quyền con người gắn với ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của Nhà nước. Xây dựng chuẩn mực văn hóa ứng xử trong lãnh đạo, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nhân.

Nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. Xây dựng gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị văn hóa; nhân rộng các điển hình về nếp sống văn minh trong đời sống văn hoá dân cư. Xây dựng chuẩn mực văn hoá ứng xử trong lãnh đạo, văn hóa doanh nghiệp, văn hoá kinh doanh, văn hóa doanh nhân; khôi phục các giá trị văn hóa truyền thống trong các thôn bản làng, các hương ước, quy ước….

Huy động nguồn vốn xã hội hóa cho phát triển phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao. Chú trọng đầu tư, hỗ trợ hoạt động sáng tạo cho văn nghệ sĩ để nâng cao chất lượng tác phẩm nghệ thuật. Đầu tư có chọn lọc các môn thể thao thành tích cao; đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao quần chúng thành phong trào trong cộng đồng dân cư. Quản lý chặt chẽ và nâng cao chất lượng các hoạt động của các cơ quan báo chí theo đúng định hướng.

3.2- Tiếp tục đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Tiếp tục thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh, thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Giữ vững vị trí trong tốp đầu cả nước về chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn. Đặc biệt coi trọng chất lượng giáo dục phổ thông, coi đây là thế mạnh, là hạt nhân trong chiến lược phát triển Vĩnh Phúc trước yếu tố thời đại. Xây dựng môi trường sư phạm trong sạch, lành mạnh; chú trọng đổi mới phương pháp giáo dục trong dạy văn hoá với giáo dục truyền thống cách mạng, giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, thể chất, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi cho học sinh, sinh viên; hun đúc ý chí, khát vọng của con người Vĩnh Phúc; kiên quyết khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục. Phấn đấu đến năm 2025 phổ cập ngoại ngữ cho bậc tiểu học, 100% số giáo viên ngoại ngữ được đào tạo nâng cao, xây dựng các trung tâm đào tạo, các khoa đào tạo ngoại ngữ chất lượng cao.

Rà soát quy hoạch hệ thống các cơ sở giáo dục và đào tạo. Tăng cường đầu tư từ ngân sách và thu hút các nguồn lực xã hội cho giáo dục đào tạo; hỗ trợ, khuyến khích phát triển giáo dục ngoài công lập. Thực hiện lộ trình miễn học phí đối trẻ mầm non 5 tuổi, học sinh phổ thông trong các trường công lập và hỗ trợ học phí cơ sở ngoài công lập đối với trẻ em, học sinh trên địa bàn tỉnh. Nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hoạt động dạy và học, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu trường đạt chuẩn quốc gia các mức độ theo tiêu chí mới. Quan tâm giáo dục hòa nhập, giáo dục trẻ tự kỷ, trẻ khuyết tật, trẻ đặc biệt, tạo môi trường giáo dục lành mạnh, công bằng và an toàn cho trẻ, đảm bảo 100% số các đối tượng đều được tiếp cận với nền giáo dục như nhau. Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đủ tầm, đáp ứng yêu cầu. Nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ giáo viên các cấp học đảm bảo đạt chuẩn trình độ đào tạo. Bố trí đủ định mức người làm việc trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập.

Tiếp tục thực hiện hiệu quả chiến lược phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Thể chế hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 20/11/2019 của Tỉnh ủy về xây dựng đội ngũ trí thức và trọng dụng nhân tài tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2020-2025. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công.

Nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp; đảm bảo trình độ tay nghề, kỹ năng, văn hóa lao động; gắn kết cung cầu lao động với doanh nghiệp. Tiếp tục thực hiện phân luồng học sinh sau trung học cơ sở; đẩy mạnh công tác tư vấn, hướng nghiệp trong nhà trường với doanh nghiệp và thị trường lao động. Tập trung đào tạo các nghề trọng điểm đạt chuẩn Quốc tế, khu vực cho đội ngũ lao động chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Cơ cấu lại mạng lưới giáo dục nghề nghiệp theo nguyên tắc: Nâng cao chất lượng đào tạo, giao quyền tự chủ; nhà nước và doanh nghiệp đặt hàng đào tạo; ngân sách hỗ trợ đầu tư thiết bị đào tạo có điều kiện thông qua số lượng, chất lượng đào tạo. Tập trung đầu tư cho bồi dưỡng, đào tạo ngoại ngữ, phấn đấu trong nhiệm kỳ 100% số giáo viên dạy ngoại ngữ tiếng Anh phải đạt tiêu chuẩn giáo viên ngoại ngữ khung Châu Âu. Thu hút các Trung tâm, các Trường hoặc mở các khoa đào tạo tiếng Anh, Trung, Hàn, Nhật…

3.3- Phát triển hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Tăng cường đầu tư từ ngân sách cho hoạt động y tế dự phòng, chủ động theo dõi, kiểm soát tốt dịch bệnh. Bố trí tối thiểu 30% ngân sách y tế cho y tế dự phòng, tăng cường đầu tư nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị, vật tư y tế. Nâng cao hiệu quả hoạt động của trạm y tế xã để thực hiện tốt vai trò trong phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu ngay từ cơ sở cho Nhân dân; Ứng dụng mạnh công nghệ thông tin trong quản lý mạng lưới y tế, quản lý bệnh tật, hồ sơ sức khoẻ người dân, đến năm 2025 phấn đấu đạt 100% số dân được theo dõi, quản lý sức khoẻ. Tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực cho các bệnh viện tuyến tỉnh, các trung tâm y tế tuyến huyện; phát triển mạng lưới bệnh viện vệ tinh, khoa vệ tinh trên địa bàn tỉnh; phát triển dịch vụ kỹ thuật theo phân tuyến, nhất là tuyến huyện, tuyến cơ sở. Hoàn thành đồng bộ, đưa vào sử dụng hiệu quả Bệnh viện Sản Nhi và Bệnh viện đa khoa tỉnh mới. Phát triển y học cổ truyền, tăng cường kết hợp với y học hiện đại trong phòng, khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng. Khuyến khích thu hút các loại hình bệnh viện nghỉ dưỡng, trung tâm dưỡng lão.

Thực hiện tốt các chính sách về dân số - gia đình, chăm sóc trẻ em và người cao tuổi; từng bước nâng cao tầm vóc người dân. Đảm bảo chính sách khám, chữa bệnh cho người nghèo; chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.

Đẩy mạnh xã hội hóa, phát triển các dịch vụ y tế tư nhân. Thực hiện giao quyền tự chủ 100% chi thường xuyên cho các cơ sở y tế công lập, phấn đấu đến năm 2025 có ít nhất 02 đơn vị tự chủ hoàn toàn. Thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân.

Đẩy mạnh phát triển ngành dược, bảo đảm cung ứng đủ thuốc về số lượng, tốt về chất lượng. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư sản xuất thuốc, vắc-xin, sinh phẩm, thiết bị, vật tư y tế trên địa bàn tỉnh. Tăng cường phát triển nguồn nhân lực, đào tạo cán bộ y tế. Thực hiện cơ chế hỗ trợ đào tạo, thu hút đội ngũ nhân lực trình độ cao, chất lượng cao cho bệnh viện các tuyến. Bồi dưỡng, nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ thầy thuốc.

3.4- Tiếp tục đảm bảo vững chắc an sinh, phúc lợi xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân

Thực hiện quan điểm tăng trưởng kinh tế luôn gắn với bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống và chất lượng dân trí của người dân.

Tập trung các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, hướng đến tạo ra nhiều việc làm mới cho người dân; giải quyết việc làm gắn đào tạo, bồi dưỡng tay nghề, kỹ năng lao động cho người lao động đáp ứng chất lượng lao động cho các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế mang tầm chiến lược. Thực hiện các chương trình, đề án, kế hoạch cải thiện môi trường và điều kiện làm việc, mối quan hệ hài hoà, hợp tác giữa doanh nghiệp và người lao động gắn bó lâu dài.

Nâng cao chất lượng các hoạt động giới thiệu việc làm đáp ứng thị trường lao động; đưa lao động đi làm việc tại nước ngoài, hướng vào các thị trường có thu nhập cao, an toàn.

Tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 23-5-2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII và Chương trình hành động số 62-CTr/TU của Tỉnh ủy khóa XVI về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.

Triển khai thực hiện kịp thời, đồng bộ, hiệu quả các cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước về ưu đãi người có công; gia đình thương binh liệt sỹ; bảo đảm tất cả hộ gia đình chính sách có mức sống cao hơn mức sống trung bình của người dân nơi cư trú; duy trì không còn hộ gia đình chính sách ở nhà tạm. Phấn đấu đến năm 2025, cơ bản không còn hộ nghèo khó khăn về nhà ở; lồng ghép các chương trình giảm nghèo với các giải pháp đồng bộ để hỗ trợ hộ nghèo phát triển sản xuất, cải thiện cuộc sống và thoát nghèo.

Thực hiện tốt công tác trợ cấp xã hội, nâng mức trợ cấp và đối tượng thụ hưởng theo quy định; thực hiện các chính sách đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, người cao tuổi, người khuyết tật trên địa bàn; làm tốt công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em và bình đẳng giới, bảo vệ phụ nữ và trẻ em. Tăng cường đầu tư cho các cơ sở bảo trợ xã hội đủ điều kiện hoạt động, tạo điều kiện để các đối tượng bảo trợ xã hội tái hòa nhập cộng đồng.

Thực hiện các chính sách dịch vụ xã hội cơ bản, bảo đảm và hỗ trợ người dân tốt nhất theo quy định. Khuyến khích đầu tư, xây dựng nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, công nhân; quan tâm đầu tư, hỗ trợ đối với đồng bào dân tộc thiểu số, xã miền núi, vùng tôn giáo.

Quan tâm đầu tư, tạo các điều kiện sống, môi trường sống, môi trường sinh hoạt, môi trường học tập, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của Nhân dân, đặc biệt là Nhân dân ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa.

3.5- Phát huy vai trò, sức mạnh toàn diện của thông tin và truyền thông, góp phần trực tiếp thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trong việc định hướng, xây dựng chính sách và triển khai thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền. Báo chí phải kiên định bảo vệ hệ tư tưởng của Đảng, cổ vũ, tạo đồng thuận trong nhân dân, hun đúc ý chí, khát vọng, bồi đắp niềm tin, tạo động lực cho sự phát triển.

Phát triển hạ tầng thông tin truyền thông và ứng dụng công nghệ thông tin với tầm nhìn dài hạn, tổng thể, tận dụng tối đa các hạng mục đã được đầu tư. Ứng dụng công nghệ thông tin phải gắn với cải cách hành chính để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan Nhà nước, phục vụ người dân, doanh nghiệp. Chủ động triển khai các công nghệ mới trong ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trên địa bàn. Thu hút các tập đoàn, doanh nghiệp lớn hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông.

Hỗ trợ doanh nghiệp viễn thông phát triển hạ tầng mạng 4G, 5G. Hình thành chính sách thúc đẩy dùng chung kết cấu hạ tầng giữa các doanh nghiệp viễn thông và hạ tầng liên ngành. Thúc đẩy chuyển dịch vụ hạ tầng viễn thông sang hạ tầng công nghệ thông tin - truyền thông để cung cấp các dịch vụ tích hợp, dịch vụ công nghệ. Tăng cường quản lý, xử lý, ngăn chặn tình trạng SIM rác, tin nhắn rác, cuộc gọi lừa đảo. Tăng cường hạ tầng kỹ thuật an toàn, an ninh mạng và triển khai ứng dụng các công nghệ mới, chất lượng dịch vụ cao phục vụ chuyển đổi số hướng đến kinh tế số, xã hội số phát triển ổn định, bền vững.

Thường xuyên đổi mới nội dung, cách thức thông tin, tuyên truyền. Chủ động cung cấp thông tin chính thống lên mạng, gắn với việc quản trị, điều hành chặt chẽ nội dung theo đúng quy định của pháp luật. Tăng cường trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền ở địa phương. Chú trọng đào tạo, nâng cao chất lượng và đạo đức của đội ngũ những người làm công tác trong lĩnh vực thông tin, tuyên truyền.

3.6- Thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, phát triển và ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ

Tăng cường xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhất là đầu tư từ doanh nghiệp. Chú trọng phát triển năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, là động lực chính của tăng trưởng kinh tế, tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Tập trung vào nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ công nghệ mới, tham gia các chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị gia tăng cao, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Có cơ chế, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, ứng dụng công nghệ, đổi mới công nghệ. Hỗ trợ doanh nghiệp trích lập và sử dụng quỹ khoa học và công nghệ phục vụ đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.

Tăng cường kết nối, gắn kết với tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia, huy động được lực lượng trí thức hàng đầu đất nước ở các tổ chức khoa học và công nghệ để đồng hành, sáng tạo phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc.

Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của tỉnh, kết nối với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia và quốc tế, tiếp cận nhanh và tranh thủ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Sử dụng thật sự hiệu quả nguồn ngân sách cho lĩnh vực khoa học, công nghệ. Lựa chọn, tập trung hỗ trợ phát triển công nghệ mới, ưu tiên có khả năng ứng dụng, tạo giá trị gia tăng cao vào phát triển sản phẩm chủ lực của tỉnh. Đẩy mạnh hoạt động thông tin, thống kê khoa học và công nghệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng và hoạt động sở hữu trí tuệ để đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng và nhà sản xuất trên địa bàn. Xây dựng chương trình hành động với các chỉ tiêu cụ thể để ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong mọi mặt hoạt động ở các cấp, các ngành của tỉnh.

Nghiên cứu từng bước chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thành lập Trung tâm đổi mới sáng tạo tỉnh theo mô hình hoàn toàn mới và Khu công nghệ 4.0 theo hướng tập trung vào hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), đào tạo, tư vấn, ứng dụng, chuyển giao các công nghệ 4.0.

Quan tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị để có cơ sở khoa học phục vụ tốt nhất sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và con người.

3.7- Tăng cường công tác bảo vệ môi trường; chủ động phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, ứng phó với biến đổi khí hậu

Tập trung thực hiện hiệu quả Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03-6-2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI; thực hiện Chiến lược, kế hoạch và các Chương trình hành động quốc gia về biến đổi khí hậu.

Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, đưa hành động bảo vệ môi trường thành trở thành thói quen, tự giác của người dân; gắn kết chặt chẽ giữa bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế - xã hội; kiên quyết từ chối các dự án đầu tư nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao. Xây dựng và đưa vào hoạt động tối thiểu 03 nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt tập trung theo quy hoạch với công nghệ xử lý hiện đại. Thực hiện phân loại rác thải tại nguồn, hạn chế sử dụng sản phẩm nhựa, nilon dùng một lần. Đầu tư hoàn thành Nghĩa trang Nhân dân cấp tỉnh theo quy hoạch. Tiếp tục ưu tiên đầu tư để từng bước hoàn thiện hạ tầng thiết yếu về bảo vệ môi trường đô thị, nông thôn. Xây dựng chương trình đầu tư xử lý nước thải, trước mắt tập trung tại các đô thị lớn, lưu vực sông. Hoàn thành dự án quản lý nguồn nước và ngập lụt tỉnh, dự án đô thị xanh Vĩnh Yên. Tiếp tục thực hiện chủ trương xây dựng, cải tạo hệ thống nước thải sinh hoạt trong khu dân cư, phát huy vai trò tự giác, tự quản của người dân về bảo vệ môi trường.

Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, xây dựng quản lý và khai thác công trình cấp nước tập trung khu vực nông thôn. Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động người dân nâng cao nhận thức về sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; hướng dẫn xây dựng các công trình xử lý nước hộ gia đình, công trình vệ sinh, bảo vệ nguồn nước và môi trường.

Nâng cao năng lực giám sát và kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm môi trường, quản lý chất thải; tăng cường công tác bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề. Cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của người dân.

Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, cứu hộ, cứu nạn và ứng phó với biến đổi khí hậu. Chủ động xây dựng các phương án phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn; kịp thời ứng phó, khắc phục hậu quả khi có thiên tai xảy ra trên địa bàn.

4. Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh, đảm bảo trật tự an toàn xã hội; nâng cao chất lượng hoạt động đối ngoại

4.1- Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh là nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên của các cấp ủy đảng, chính quyền, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang là nòng cốt. Tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của các cấp ủy đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của các cấp chính quyền đối với lực lượng vũ trang và sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ, hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về các chiến lược quốc phòng, an ninh. Nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng.

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận lòng dân ngày càng vững chắc. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh trong xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch, đề án phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, chống phá của các thế lực thù địch. Chủ động về mọi mặt, sẵn sàng các phương án xử lý tốt các tình huống quốc phòng, an ninh, không để bị động, bất ngờ; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

4.2- Tăng cường và phát triển tiềm lực quân sự đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

Xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh vững mạnh, toàn diện, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu ngày càng cao. Xây dựng lực lượng dự bị động viên và lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp. Nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang tỉnh. Tổ chức tốt các cuộc diễn tập khu vực phòng thủ, diễn tập ứng phó sự cố thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, diễn tập chữa cháy rừng các cấp trong tỉnh và diễn tập chiến đấu phòng thủ cấp xã.

Tăng cường nguồn lực, xây dựng thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, thành phố ngày càng vững chắc. Thực hiện tốt công tác tuyển quân và công tác động viên theo quy định của pháp luật. Thực hiện tốt chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội.

4.3- Chủ động phòng ngừa và đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch, đấu tranh phòng, chống tội phạm, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về an ninh, trật tự

Chủ động nắm, đánh giá, dự báo chính xác, giải quyết tốt những phát sinh phức tạp từ cơ sở, không để hình thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự, không để xảy ra bị động, bất ngờ. Tăng cường công tác bảo đảm an ninh chính trị - nội bộ, an ninh văn hóa - tư tưởng, an ninh thông tin, an ninh kinh tế, an ninh xã hội. Chủ động đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, kiên quyết không để hình thành các tụ điểm phức tạp về trật tự xã hội, không để hình thành tội phạm có tổ chức, tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về an ninh, trật tự, an toàn giao thông, phòng, chống cháy, nổ. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, chú trọng xây dựng các mô hình tự phòng, tự quản, tự bảo vệ cơ sở.

4.4- Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

Tăng cường trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý phản ánh kiến nghị của người dân; gắn công tác tiếp dân với trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo. Nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc giải quyết của các cơ quan, đơn vị; hạn chế tối đa các vụ việc khiếu kiện đông người, phức tạp, kéo dài, vượt cấp, kiên quyết không để phát sinh điểm nóng từ khiếu nại, tố cáo. Chú trọng công tác dân vận chính quyền, công tác hòa giải ở cơ sở, tạo sự đồng thuận của người dân trong xử lý chấp hành, thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật.

4.5- Tăng cường và nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại trong tình hình mới

Tiếp tục triển khai hiệu quả, đồng bộ các hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước, đối ngoại Nhân dân trên các lĩnh vực cho phép. Quản lý hoạt động đối ngoại chặt chẽ, đúng quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại. Nâng cao chất lượng công tác thông tin đối ngoại, hợp tác quốc tế, tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Phát huy tiềm năng người Vĩnh Phúc định cư ở nước ngoài và kiều bào đóng góp có hiệu quả vào các hoạt động đoàn kết, hữu nghị, thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác, hướng về xây dựng quê hương. Chủ động xây dựng các mối quan hệ hợp tác hữu nghị với các địa phương, các quốc gia phát triển, quốc gia truyền thống, tăng cường giao lưu văn hóa, hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, tạo điều kiện quảng bá hình ảnh của tỉnh ra thế giới.

5. Phát huy dân chủ, xây dựng chính quyền, cải cách tư pháp và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân

5.1- Xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực và hiệu quả; đẩy mạnh cải cách tư pháp

Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, đóng góp cho sự phát triển, đổi mới của Quốc hội. Tạo điều kiện để Đoàn Đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội giám sát, đóng góp, tham gia ý kiến vào những vấn đề lớn, quan trọng về phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh.

Tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động và nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND; phát huy vai trò, trách nhiệm, kỹ năng hoạt động của đại biểu HĐND các cấp. Nâng cao chất lượng các kỳ họp, chất lượng ban hành các nghị quyết của HĐND, coi trọng lấy ý kiến đóng góp của Nhân dân và ý kiến phản biện của Mặt trận Tổ quốc trong quá trình xây dựng nghị quyết, đảm bảo nghị quyết ban hành đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện của UBND, Chủ tịch UBND các cấp. Xác định rõ vai trò, chức năng nhiệm vụ từng cấp, từng ngành, nâng cao trách nhiệm công vụ, tăng cường toàn diện công tác quản lý nhà nước, nhất là trên các lĩnh vực: quy hoạch, đầu tư công, quản lý đất đai, tài nguyên, tài chính ngân sách, nội vụ, xây dựng…, chống thất thoát, lãng phí. Tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện chức năng giám sát, phản biện từ việc xây dựng đến tổ chức thực hiện các chính sách, nhất là những chính sách có liên quan trực tiếp đến người dân.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra công vụ, gắn trách nhiệm giải trình với người đứng đầu cấp và ngành. Kiểm điểm trách nhiệm hành chính hàng tháng có đánh giá xếp loại, làm căn cứ để đánh giá xếp loại hàng năm.

Tiếp tục thực hiện quyết liệt việc kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy chính quyền các cấp theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đẩy mạnh tinh giản biên chế cùng với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; siết chặt kỷ luật, kỷ cương công vụ; nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần thái độ phục vụ Nhân dân.

Tiếp tục tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng xây dựng chính quyền điện tử gắn với hoạt động hiệu quả của Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh và bộ phận một cửa cấp huyện, cấp xã; thực hiện hiệu quả cơ chế một cửa liên thông, thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử. Tăng cường phân cấp, làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng đơn vị, nhất là người đứng đầu. Giảm tối đa thời gian, chi phí thực hiện các thủ tục hành chính, nhất là các thủ tục về thành lập doanh nghiệp, thuê đất, cấp phép đầu tư, thuế,… Công khai các quy định về thủ tục hành chính để tổ chức, Nhân dân biết, thực hiện và giám sát. Ban hành và thực hiện hệ thống tiêu chí, đo lường mức độ thực thi công vụ của các tổ chức, cá nhân.

Tiếp tục cải cách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp trên địa bàn tỉnh. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Luật gia, Đoàn Luật sư và tổ chức bổ trợ tư pháp. Tăng cường hiệu quả công tác phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân.

5.2- Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo tinh thần Thông báo Kết luận số 160-TB/TW, ngày 15/01/2020 của Bộ Chính trị; có biện pháp cụ thể khắc phục những hạn chế, yếu kém; gắn hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ với yêu cầu thực tiễn của từng địa phương ở từng thời điểm. Tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Gắn bó mật thiết với nhân dân, đoàn viên, hội viên. Thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền theo yêu cầu Quyết định số 217,218 của Bộ Chính trị. Bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của nhân dân, đoàn viên, hội viên.

Các hoạt động cần tập trung hướng về cơ sở, tích cực tham gia giải quyết những vướng mắc, vấn đề bức xúc nảy sinh từ cơ sở; phát huy vai trò, sự sáng tạo và tự quản của Nhân dân trong việc tham gia các chương trình, dự án, đề án phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Cần lựa chọn, tổ chức các cuộc vận động thiết thực, hiệu quả, đi vào chiều sâu, có kết quả cụ thể, không hình thức, phù hợp với địa phương, phát huy được vai trò, trách nhiệm của đoàn viên, hội viên. Tập hợp nhân dân, đoàn viên, hội viên đẩy mạnh các phòng trào thi đua yêu nước; khơi dậy ý chí phấn đấu, tự lực, tự cường, khát vọng làm giàu, xây dựng quê hương; thực hành dân chủ, củng cố niềm tin, tạo sự đồng thuận, tiếp tục xây dựng Vĩnh Phúc phát triển. Đặc biệt, tăng cường giáo dục truyền thống cách mạng, pháp luật, đạo đức, lối sống văn minh, nâng cao sức khỏe, kỹ năng, năng lực làm việc, tư duy độc lập và tinh thần sáng tạo cho thanh, thiếu nhi. Phát huy vai trò xung kích, tình nguyện của tuổi trẻ đi đầu trong học tập, lao động sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ; chủ động học tập, có khát vọng vươn lên, lập thân, khởi nghiệp, lập nghiệp, dám nghĩ, dám làm, chủ động hội nhập quốc tế.

Chủ động xử lý tốt các mối quan hệ dân tộc, tôn giáo. Chú trọng việc tập hợp công nhân, phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở ở các doanh nghiệp, nhất là trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Nâng cao đạo đức công vụ, lắng nghe dân, gần dân, hiểu dân, có trách nhiệm với dân, lấy dân làm mục tiêu phục vụ. Nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, chống mọi biểu hiện dân chủ cực đoan, hình thức, lợi dụng dân chủ gây mất đoàn kết nội bộ, góp phần củng cố lòng tin của Nhân dân với Đảng, chính quyền.

Các hội quần chúng hoạt động đúng định hướng, chủ trương tại Thông báo Kết luận số 158-TB/TW ngày 02/01/2020 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Kết luận số 102 của Ban Bí thư về hội quần chúng trong tình hình mới; các quy định của pháp luật, điều lệ của tổ chức; thực hiện tự chủ, tự quản và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội.

III. NHỮNG NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM, CÁC KHÂU ĐỘT PHÁ TRONG NHIỆM KỲ 2020-2025

1. Những nhiệm vụ trọng tâm

1.1- Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của nhà nước. Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo sức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ; phát huy tính tiên phong, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính đồng bộ trên tất cả các mặt, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý, điều hành của các tổ chức trong hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở.

1.2- Đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, trọng tâm phát triển công nghiệp, dịch vụ chất lượng cao; khai thông các điểm nghẽn, thu hút đầu tư, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; tạo sự liên kết giữa các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng khoa học và công nghệ, ứng dụng các thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Huy động, thu hút, quản lý và phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; đầu tư trọng điểm cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng kinh tế hiện đại, phát triển đô thị theo hướng hiện đại và bản sắc gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới nâng cao. Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường.

1.3- Xây dựng nền văn hóa, văn học, nghệ thuật phát triển, để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng con người Vĩnh Phúc hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, hun đúc ý chí, bồi đắp khát vọng và nuôi dưỡng các giá trị nhân văn (yêu quê hương, hiếu học, khát vọng làm giàu, tình thương nhân ái); phát triển và quản lý xã hội kỷ cương, bền vững; thực hiện hiệu quả tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân.

1.4- Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo đảm ổn định và phát triển một cách thống nhất và hài hòa.

(Các đề án, nhiệm vụ trọng tâm cụ thể được thể hiện tại Phụ lục 3)

2. Các khâu đột phá

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, XII xác định 03 đột phá chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội, đó là: (i) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; (ii) Phát triển nguồn nhân lực; (iii). Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng), đây là những đột phá chiến lược còn tiếp tục thực hiện lâu dài trên phạm vi cả nước. Đồng thời với việc thực hiện các đột phá chiến lược nói trên, để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trong nhiệm kỳ, Vĩnh Phúc xác định 03 khâu đột phá để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện là:

2.1- Tập trung xây dựng cơ chế chính sách đặc thù để thu hút, giải phóng nguồn lực (thu hút đầu tư phát triển doanh nghiệp, vốn, đất đai, nhân lực,…) đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội theo nguyên tắc hiệu quả, bền vững. Tăng cường thực hiện phân cấp, phân quyền, giao nguồn lực và giao nhiệm vụ gắn với trách nhiệm giải trình để kiểm soát.

Hoàn thiện các cơ chế chính sách, tháo gỡ các vướng mắc liên quan đến giải phóng mặt bằng. Tập trung thu hút, phát triển các ngành công nghiệp sản xuất thiết bị điện tử công nghệ cao, công nghệ mới, thông minh và thân thiện với môi trường.

2.2- Đẩy mạnh đô thị hóa cùng với xây dựng nông thôn mới nâng cao, tạo sự chuyển biến cơ bản về diện mạo, chất lượng đô thị, nông thôn của tỉnh trong 5 năm tới. Trọng tâm là xây dựng đô thị của Vĩnh Phúc: Xanh - Sạch - Đẹp - Văn minh, phát triển bền vững, hiện đại, có bản sắc và đồng bộ. Xây dựng nông thôn mới nâng cao theo hướng hoàn thiện cơ sở hạ tầng; xử lý tốt ô nhiễm môi trường; cải tạo nâng cấp cảnh quan; đảm bảo các thiết chế văn hóa, các khu vui chơi sinh hoạt tập trung; phát huy vai trò tự quản của nhân dân; khôi phục, nâng cấp các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của từng địa phương.

2.3- Đột phá trong công tác cán bộ và tổ chức bộ máy, trước hết là đổi mới trong công tác đánh giá cán bộ bằng “sản phẩm”, coi kết quả đánh giá cán bộ là tiêu chí quan trọng nhất để thực hiện quy hoạch, điều động, bổ nhiệm. Kiểm soát chặt chẽ quyền lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, tăng cường thanh tra, kiểm tra công vụ. Đề bạt, sử dụng người có đức, có tài, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; không bổ nhiệm, sắp xếp, điều chuyển, thay thế kịp thời những cán bộ yếu kém, năng lực hạn chế, uy tín thấp. Tập trung bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ cả về bản lĩnh chính trị, kiến thức chuyên môn và năng lực thực tiễn trong đó đặc biệt quan tâm tới việc đào tạo, bồi dưỡng, thử thách qua môi trường thực tiễn. Phát huy tinh thần, ý thức trách nhiệm, đam mê khát vọng của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực hiện nhiệm vụ.

*

* *

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh khóa XVII, nhiệm kỳ 2020-2025, Đảng bộ và Nhân dân Vĩnh Phúc quyết tâm nắm chắc thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, khơi dậy mọi tiềm năng, hun đúc ý chí, khát vọng phồn vinh của cả Đảng bộ, Nhân dân; tạo dựng và phát huy những động lực mới; kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và Nhà nước; phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, giá trị văn hóa, nhân tố con người để phát triển nhanh và bền vững.

Dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, với hướng đi đúng đắn, quyết tâm chính trị cao, bằng ý chí và niềm tin của gần bảy vạn đảng viên, cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân và hơn một triệu người dân Vĩnh Phúc cùng quyết tâm chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, với khát vọng giàu mạnh và phồn vinh.

Vĩnh Phúc nhất định hiện thực hóa thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà Đảng bộ và Nhân dân tỉnh ta đã vinh dự nhiều lần được đón Người về thăm và động viên, căn dặn; xứng đáng cùng cả nước vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, vì chủ nghĩa xã hội và hạnh phúc của Nhân dân.

Nơi nhận:

- Bộ Chính trị;                                                                                                   

- Các đ/c TUV;

- Các huyện, thành ủy,

Đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy;

- Các Đại biểu dự Đại hội Đảng bộ tỉnh;

- Lưu VT.

 

T/M TỈNH ỦY

BÍ THƯ

 

Hoàng Thị Thúy Lan

 


 


 


 

















 

[1] CPTPP (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương), EVFTA (Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu), EVIPA (Hiệp định Bảo hộ đầu tư).


 

[1] CPTPP (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương), EVFTA (Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu), EVIPA (Hiệp định Bảo hộ đầu tư).



TAG:
Tin tức Mới:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: