Phóng sự - Ghi chép

Cuốn theo cuộc chiến

Thứ Sáu, 22/10/2021

(Tiếp theo kỳ trước)

Gặp người quen

 

Gần đến điểm hẹn, chúng tôi tìm chỗ ẩn nấp…chờ…Mờ sáng, chúng tôi nhận ra tốp du kích Nhuận Đức đi đến. Họ có 5 người (3 nam, 2 nữ); anh Tư Liêm, Đội phó dẫn đầu.

Anh em chúng tôi gặp nhau tay bắt mặt mừng. Anh Tư bảo: “Rút kinh nghiệm lần trước, vừa chia tay xong 2 liên lạc của chú (ý nói Du và anh Hữu) gặp ngay bọn bảo an (chứ không phải biệt kích, biệt động). Lần này gặp ở đây, rất an toàn!”.

Căn cứ này đúng là dễ quan sát, có thể phát hiện địch từ xa và lủi trốn cũng dễ. Chỉ cần xuống rạch, dìm người dưới bùn và phủ cỏ lên mặt là có thể yên tâm…Chỉ có điều trước khi vào cứ thì phải xóa dấu vết thật kỹ là được!.

Tôi và anh Tư Liêm trao đổi công việc với nhau xong thì các em gái cũng nấu xong cơm sáng. Cô du kích bưng đĩa cá luộc lên. Tôi nhìn quen quen nhưng không nhớ là đã gặp ở đâu. Xinh xắn, nhanh nhẹn, mặc cái áo bà ba chít eo càng gọn người hơn. Cái khăn rằn bó lấy làn tóc dài và mặt hơi tái do sốt rét …

- Anh Ba nhận ra em hông? Cô gái hỏi tôi

Tôi lúng túng lắc đầu. Anh Tư cười: “Đó! Út Nhỏ (tên cô bé) nó cứ đòi đi theo. Nó biểu là biết Ba đó!”…

Quả thực, tôi không nhớ…Cô bé vừa cười, vừa kể:

- Hôm qua, anh Du đến cứ, em đoán thể nào cũng có anh Ba. Thế mà trúng! Anh có nhớ hồi đêm các anh đưa chúng em qua sông hông? Ở dưới hầm cạnh Thị Tính đó! Rồi anh nhường phao cho dì Ba đó! Anh nhớ hông?

Tôi vẫn không nhớ! Cô bé cười rất duyên:

- Hơn 2 năm nay, dì Ba vẫn nhắc tới anh hoài! Dì khen lính Bắc các anh nhiều lắm…Em nhớ khi qua sông chỉ có anh bơi ngửa để “bá xếp” (súng AK báng gấp) trên bụng mà bơi vẫn êm ru…

Tôi bắt đầu ngờ ngợ…và rồi cô bé kể lại chuyện cả đoàn cán bộ công tác từ R về đến Long Nguyên bị mấy anh đặc công bò đến sát người mà không biết. Lại nữa, các anh còn mời ăn cơm vắt với khô cá và tận tình đưa đoàn vượt sông…

Từ năm 1970, theo lệnh anh Bẩy, tổ tôi cắm chốt ở Long Nguyên - An Điền. Chẳng biết cấp trên cố ý hay vô tình, giao cho chúng tôi nhiệm vụ đưa và bảo vệ các đoàn cán bộ công tác qua sông Thị Tính và Sài Gòn. Chỉ có 2 lần của năm 1970, chúng tôi gặp địch phải nổ súng chiến đấu, còn lại đều qua sông trót lọt…Nhiệm vụ không khác gì người đưa đò, qua sông ai nhớ được hết khách!...

Và cô bé tả về căn cứ (nơi ở) của chúng tôi vanh vách…giúp tôi dần nhớ lại lần gặp đó.

Mọi chuyện vỡ òa khi anh chàng Thái nhận ra cô bé, khiến tôi xúc động. Anh Tư giải thích: “Nó là con gái anh! Lần đó Út Nhỏ đi dự Đại hội chiến sĩ thi đua về, được các em giúp đỡ! Nó vẫn nhắc chuyến đi đó mãi. Mấy lần anh em đặc công về đây, nó đều đòi đi theo hy vọng gặp lại người quen, không ngờ lại là Ba…Hay thật!”...

Tôi hỏi: “Trong đoàn ngày ấy, các anh, chị khỏe cả chứ?”

Út Nhỏ đáp: “Chỉ có anh Sương, Phú Lợi (anh cán bộ đeo súng ngắn, trông rõ oai) hy sinh, còn lại vẫn nguyên. Khi nào rảnh, em đưa anh Ba đến gặp dì Ba nhé! Dì bây giờ ở Lái Thiêu! Em sẽ báo tin để dì mừng…”.

Cuộc gặp gỡ tình cờ, khiến tất cả anh em đều rất vui mừng. “Thì ra cô bé này lập rất nhiều chiến công. Thật lợi hại”!. Tôi nghĩ thầm như vậy!

Trước khi chào mọi người ra về, tôi hẹn anh Tư Liêm sẽ gặp lại bàn tiếp chuyện phối hợp nhổ chốt. Không biết anh chàng Thái nói chuyện với Út Nhỏ những gì, hai người chia tay nhau có vẻ lưu luyến…Về đến căn cứ trời vừa tối. Tôi, Thái và Du ăn vội bát cơm cá mắm rồi hộc tốc đi gặp du kích An Phú…

Đúng hẹn, chị Bẩy đưa chúng tôi vào căn cứ của đội du kích cũng gần với sông Sài Gòn. Không biết phía dưới có địa đạo không nhưng về địa thế, đặt căn cứ này ít người nghĩ là an toàn.

Từ đây, nghe được tiếng ca nô (giang thuyền) của địch ở sông rất rõ. Nếu bọn thủy quân lục chiến đổ bộ lên bờ, căn cứ này không tránh khỏi bị lộ…Nhưng thôi, đó là suy nghĩ, còn thực tế, dù sao ở đây cũng tạo được sự bất ngờ!

Chị Bẩy đưa chúng tôi đến một căn hầm đang có 3 - 4 nam, nữ du kích ngồi ở cửa hầm nói chuyện với nhau (tán dóc thì đúng hơn)…Chúng tôi hơi ái ngại…nhưng các anh, chị du kích thấy chúng tôi đến liền đứng dậy nhường hầm luôn. Họ đến một căn hầm khác, không xa lắm…

Chúng tôi ngồi trên cửa hầm đợi…Cũng phải đến gần 1 tiếng đồng hồ sau mới thấy người chỉ huy về cùng với 3 du kích nữa. Đó cũng là một phụ nữ, tuổi chắc cũng tương đương chị Bẩy. Vừa trông thấy chúng tôi, người phụ nữ đó nói:

- Cậu Ba đấy phải không?

Tôi bị bất ngờ vì tối trời, chưa nhận ra người phụ nữ đó là ai.

Hình như biết tôi bị bất ngờ và lúng túng nên chị Bẩy đáp thay: “Chị Hai, cậu Ba về rồi đây nè!”

Người phụ nữ tên là chị Hai đó bước lại gần, nhưng tôi vẫn chưa nhận ra. Chị Bẩy nói đỡ: “Xuống hầm nói chuyện!”

Chúng tôi xuống hầm. Ánh sáng chiếc đèn cầy lập lòe khiến tôi càng bối rối, bởi người phụ nữ gọi là chị Hai đó bịt mặt kín mít. Khi tất cả đã yên vị, chị Hai mới mở khăn ra, cười: “Lâu không gặp, cậu Ba quên chị rồi sao?”

Tôi ngỡ ngàng và nhận ra là chị Hai Hạnh - người dẫn tôi vào Đồng Dù năm 1970!

Tháng Năm năm 1970, anh Bẩy Nghiệp đưa tôi và anh Tư sang Củ Chi để điều nghiên căn cứ Đồng Dù. Anh Bẩy liên hệ với đội du kích An Phú - ngày ấy do một người đàn ông lớn tuổi chỉ huy, ông thứ 8 nên gọi là “ông Tám”. Ông Tám là cán bộ miền Nam tập kết, trở về Nam từ năm 1963 - lúc phong trào cách mạng ở Củ Chi đang lên cao. Ông Tám giao nhiệm vụ cho chị Hai Hạnh giúp chúng tôi tìm cách “chui” vào Đồng Dù…

Cuối năm 1970, ông Tám hy sinh. Đội du kích lâm vào khó khăn. Không biết trong nội bộ có kẻ nội gián không mà đội đi đến đâu bị địch đuổi theo đến đấy… May là tổ chiến đấu của chị Hai Hạnh giữ được bí mật, bám trụ và bảo toàn lực lượng đến bây giờ!

Hai chị em gặp lại nhau mừng vô kể. Chị Hai hỏi thăm anh Bẩy Nghiệp và đơn vị. Chị bảo: “Hôm qua, chị Bẩy thông báo cậu về, chị mừng hết sẩy! Cần gì cứ nói, chị sẽ giúp hết cỡ! Không ngán gì hết!...”. Tôi biết tính chị Hai - rất thẳng, đến anh Bẩy cũng phải nể nữa là! Bởi vậy, tôi báo cáo và đề nghị chị giúp.

Nghe tôi trình bày xong, chị Hai cười: “Những hang chuột chị nhượng lại cho cậu hết tác dụng rồi sao?” (ý chị nói là những cửa rào để vào Đồng Dù mà chị giao lại cho chúng tôi).

Tôi đáp: “Chúng em mới dùng được 2 thôi, còn 1, em không nhớ, không biết còn không?”

Chị Hai lắc đầu: “Cậu vẫn chứng nào tật nấy! Phải linh hoạt đi em! Thôi, đêm mai, đi với chị!?

Tôi mừng quýnh! Dù biết địch lắp thêm nhiều lớp rào, tăng thêm nhiều loại mìn và lỗ châu mai dày đặc nhưng chúng tôi vẫn phải cố gắng làm sao vẽ được bố phòng bên trong hàng rào... Việc anh Bẩy giao có thế thôi!

Vì đêm đã về khuya nên tôi xin phép về để chuẩn bị. Chị Hai dặn: “Chiều mai, vẫn ở chỗ cũ nheng!…”

Tôi chỉ biết nói vâng thôi….

Vũ Quang Đồng

(Còn nữa)



TAG:
Tin tức Mới:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: