Phóng sự - Ghi chép

Cuốn theo cuộc chiến

Thứ Năm, 21/10/2021

(Tiếp theo kỳ trước)

Hai anh trinh sát Miền rất cẩn thận, hỏi đi hỏi lại chúng tôi. Anh Bẩy và anh Quý ngồi lắng nghe, thỉnh thoảng lại gợi ý, động viên anh em tôi trả lời chính xác những gì mình biết…

Chúng tôi “họp” đến gần 5 giờ sáng mới xong. Nồi cháo cá anh Diệm nấu không ai đụng đến, nguội ngắt từ lúc nào không biết…

Ăn cơm sáng xong, hai anh trinh sát Miền chào chúng tôi để về. Trước khi chia tay, anh Tiến hỏi tôi: “Các cậu có dẫn đường được không?”

Tôi không ngần ngại trả lời: “Được! Bọn em quen rồi anh ạ!”.

Chiều hôm đó, anh Bẩy và anh Quý triệu tập cả tổ tôi và tổ Thái lại hầm để giao nhiệm vụ: “2 tổ sang Củ Chi, chuẩn bị cho Đồng Dù!”

Chúng tôi có 1 ngày chuẩn bị. Tổ tôi còn 4 người là tôi, Thái B40, anh Hữu và Du. Tôi xin thêm một chiến đấu viên nữa, anh Bẩy bổ sung cho một tân binh ở tổ của Tâm tên là Việt. Đây chính là anh lính gác hút thuốc trong đêm mà tôi gác thay…Người nhỏ, dáng nhanh nhẹn nhưng bơi lội kém!

Chúng tôi gọi nhau dậy từ 1 giờ đêm, lẳng lặng hành quân. Vượt sông Thị Tính lúc hơn 4 giờ sáng, đến căn cứ An Điền, tôi cho anh em nghỉ lại cả ngày. Tại đây, tôi bảo tổ của Thái ở lại 2 ngày, sau đó mới vượt sông. Anh em hỏi tại sao, tôi giải thích rằng, 10 người cùng sang sông Sài Gòn một lượt không an toàn nên phải chia nhỏ ra!...

Đợi đến 9 giờ tối, chúng tôi xuất phát. Do chỉ có 5 người nên chúng tôi đi qua chốt Rạch Bắp rất gọn, lẹ. Đến khi vượt sông Sài Gòn, anh chàng Việt cứ lóng ngóng với cái bồng và khẩu AK…Tay này sợ nước làm Du và anh Hữu phải dìu mới sang đến bờ…Mất thời gian và quá vất vả!

Chúng tôi về đến căn cứ ở An Phú thì trời cũng vừa sáng…

… Kiểm tra an toàn căn cứ xong, chúng tôi đạy nắp hầm thì đạn pháo từ Đồng Dù bay qua vun vút. Nghe tiếng nổ rất gần, hình như ở An Nhơn Tây hay Nhuận Đức…So với bom đạn năm 1969-1971, thì bây giờ chẳng thấm tháp gì, nhưng cũng rất nguy hiểm!

Giở cơm nắm, khô cá ăn xong, Thái B40 xung phong cảnh giới để anh em ngủ. Một đêm hành quân ai cũng mệt nên giấc ngủ đến rất nhanh…Tôi không ngủ được vì nghĩ tới nhiệm vụ…Trong đầu rất hỗn độn những câu hỏi mà bản thân không đủ sức trả lời…

Hơn 6 năm chiến trường, quen đánh những trận nhỏ, bí mật, bất ngờ…nay phải làm giao liên dẫn đường cho Đại quân kể ra cũng vinh dự đấy, nhưng trái nghề…không sướng lắm!…Tuy nhiên, chắc chắn cuộc chiến này sẽ rất ác liệt…không biết còn được sống trở về không? Đồng Dù…căn cứ quá lớn, địch quá mạnh, phòng thủ quá vững chắc…Trước mưa bom, bão đạn chỉ còn đợi ở cơ may mà thôi!…

Nhìn anh Hữu, Du, Việt ngủ rất ngon lành, không biết họ có nghĩ như tôi không? Nhìn xạ thủ B40 Thái thỉnh thoảng lại ngóc đầu lên quan sát động tĩnh bên ngoài… liệu có biết sắp tới, khẩu B40 của anh ta phải bắn liên tục bao nhiêu quả đạn không?

Đi sang Củ Chi lần này, tôi cảm thấy có điềm gì đó gở gở… Mọi lần nhận nhiệm vụ không thấy có gì phải băn khoăn. Thậm chí còn cảm thấy nhẹ tênh! Nhưng lần này, tổ tôi nhận tân binh lại vớ phải người không biết bơi; vượt sông Thị Tính và sông Sài Gòn không gặp địch, về đến cứ xung quanh vắng lặng lạ thường… Không biết linh tính hay chỉ là cảm nhận mà không thể nói ra được!...

Thấy Thái có vẻ mệt rồi, tôi bảo đi nghỉ để tôi gác thay. Anh chàng vừa trèo lên võng chưa đầy 2 cái ngáp đã ngủ say rồi…Ngoài hầm, tiếng bom pháo vẫn dội về ì ùng, nhưng các chiến đấu viên của tôi vẫn ngủ rất ngon lành….

3 giờ chiều, tôi mới gọi anh em dậy. Tôi cử anh Hữu và Du đi tìm du kích Nhuận Đức. Việt ở nhà nấu cơm. Thái và tôi đi tìm du kích An Phú…

Theo “túi gấm” của anh Bẩy hướng dẫn, tôi tìm đến một căn cứ du kích ở gần một con rạch (không biết tên gọi là gì). Tại đây, chúng tôi gặp 1 tổ 3 người (2 nữ, 1 nam). Người nam là thiếu niên mới lớn, trốn đi lính, được giao làm liên lạc. Chỉ huy là chị Bẩy (vì người miền Nam toàn gọi nhau theo thứ nên tôi không biết tên thật của chị là gì) tuổi cũng đã trên 40, dáng người mảnh, giọng nói có chút đanh, nhưng rất sởi lởi…

Chị Bẩy nhận ra tôi vì đã gặp mấy lần họp với đội du kích, nhưng tôi thì không nhớ. Cơ bản là toàn họp vào buổi tối nên mọi người không nhìn rõ mặt nhau. Hơn nữa, du kích bí mật phải che mặt, ngồi nơi khuất ánh đèn; chỉ có chỉ huy và bộ đội chúng tôi là “chường mặt ra” công khai…Những năm 1970-1972 ở Củ Chi, anh chị em du kích bịt mặt rất nhiều. Sang năm 1973-1974, các anh, các chị mới được công khai nhiều hơn...

Tôi báo cáo với chị Bẩy nhiệm vụ của đơn vị và nhờ chị giúp đỡ. Chị Bẩy rất vui, nhận lời ngay và hẹn chiều mai sẽ dẫn chúng tôi đến gặp chỉ huy cao hơn (người miền Nam, lại là dân kháng chiến là vậy! Rất thẳng thắn, cởi mở. Nếu chúng ta công khai công việc, họ sẵn sàng giúp đến cùng! Còn nếu có chút mập mờ, sẽ mất niềm tin với họ, thì đừng mơ nhờ vả được gì!).

Trở về cứ cũng gần 10 giờ đêm. Anh Hữu và Du về trước chúng tôi gần 1 tiếng đồng hồ, kết quả 2 người cũng đã bắt liên lạc được. Nhìn chung công việc thuận lợi! Anh Hữu bảo: “Du kích Nhuận Đức hẹn sáng ngày mai gặp mặt tại căn cứ con rạch, gần sông”… Vẫn là địa chỉ cũ.

Năm 1970, tôi đã ở cứ đó gần 1 tuần (hình như nó thuộc đất An Nhơn Tây chứ không phải trên đất Nhuận Đức). Đó là một con rạch nhỏ nối với sông Sài Gòn, cây cối thưa thớt, dễ lộ bí mật, nhưng cá rất nhiều. Ở đó, có một ông già tên là ông Sáu (tôi không biết tên thật của ông) và một cái vó cá. Ông Sáu đã hơn 60 tuổi nhưng biết võ thuật và múa Mai hoa quyền rất đẹp.

Ở Củ Chi, tôi có 2 sư phụ dạy võ, đều cao tuổi cả. Cũng Mai hoa quyền, má Hai dạy một kiểu, ông Sáu dạy một kiểu...nhưng cả "công" và "thủ" đều na ná như nhau: “Đỡ nhanh, đánh mạnh, dứt điểm!”

Vì đường đến điểm hẹn hơi xa, rất trống trải, qua nhiều khoảng ruộng nước nên chúng tôi phải dậy từ 2 giờ sáng để đi. Tôi để Du và Việt ở nhà. Vì tôi biết đường nên đi trước, anh Hữu đi giữa, Thái đi sau cùng. Mỗi người cách nhau khoảng 10-15 mét…

Thời còn Mỹ, phải đi theo kiểu này! Nếu bị biệt kích phát hiện, người đi đầu chấp nhận hy sinh. Có súng nổ, người thứ 2 sẽ nổ súng lại và người thứ 3 dùng B40 bắn để lấy lại thế cân bằng. Trong lúc B40 khai hỏa, người thứ 2 sẽ bò lên xem người thứ nhất bị thương hay hy sinh để lấy xác về.

Điều kinh sợ nhất của lính Bắc là không thuộc địa bàn. Trước, có anh em miền Nam dẫn đi, tôi đã được giới thiệu xã, làng, ấp… nhưng đầu óc không thể tập trung nhớ các địa danh…Vì thế, nếu có đồng đội hy sinh, đem chôn cũng không thể nhớ được chính xác địa điểm…Đây là nỗi day dứt nhất của những người sống trở về!

Kinh nghiệm là vậy, nhưng nhiều trường hợp, nhất là với tân binh, có súng nổ bất ngờ sẽ nằm rạp xuống, giương súng lên xiết cò liên thanh, rồi quay đầu chạy thục mạng, thế là địch có cơ hội đuổi theo hoặc gọi máy bay, phi pháo đến.

Dưới mưa bom, bão đạn, địch bao vây, không mấy đơn vị còn đủ người sống trở về!

Vũ Quang Đồng

(Còn nữa)



TAG:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: