Phóng sự - Ghi chép

Cuốn theo cuộc chiến

Thứ Tư, 20/10/2021

(Tiếp theo kỳ trước)

Từ đầu tháng 3 năm 1975, miền Đông bắt đầu các trận đánh quyết định…anh em chúng tôi đều có cảm giác được bước vào chiến dịch, nhưng lần này quyết liệt hơn nhiều…

… Anh Bẩy và anh Quý tuy mới về, nhưng vào cuộc ngay! Các anh giao cho các tổ Kính, Tâm, Khải thay nhau bám đường 13. Anh Bẩy và anh Tư đi liên hệ với bộ đội chủ lực (công trường7 và 9) và các đơn vị bạn chuẩn bị chiến trường Lai Khê.

Tổ của Thái lại tiếp tục đi phối hợp với du kích Lai Hưng (anh Bẩy dặn rằng: Đánh được thì đánh, nhưng phải bảo toàn lực lượng!)…

Tổ hậu cần của anh Diệm làm nhiệm vụ bảo đảm chuyên đi lấy hỏa khí. Còn tổ tôi trở về An Điền tiếp tục săn biệt kích, thám báo..

So với những năm trước đây, cuối năm 1974 đầu 1975, tình hình đã rất khác! Bọn biệt kích, thám báo không còn hoạt động mạnh như trước. Ngay cả bọn biệt động quân yêng hùng cũng co cụm lại với nhau. Nếu bọn chúng có đi “tràn ngập lãnh thổ” thì cũng phải cả một đại đội, hoặc cả một kiên đội (tương đương cấp tiểu đoàn). Nếu đi ở cấp trung đội sẽ “có đi không có về” hoặc về rất ít!

Trong khi đó, Đài Sài Gòn vẫn hô hào tử thủ, “Chống Cộng đến cùng”…Về An Điền, tôi đi liên hệ với du kích An Điền và đơn vị anh Sáu Kiên…Lãi nhất vẫn là anh chàng Du, được gần cô du kích Út Hồng…

Từ cuối tháng 2 đến giữa tháng 3 năm 1975, tổ tôi rất nhàn. Chỉ đụng địch vài trận nhỏ. Đầu tháng 3, gặp một toán 3 tên thám báo ở giáp ranh 2 xã Long Nguyên và An Điền nhưng chưa đánh chúng đã xin hàng! Sau khi khai thác xong, chúng tôi chuyển cho an ninh khu…

Tiếp 2 trận sau đều với biệt động quân từ Bến Cát ra. Trận thứ nhất, anh chàng Thái bắn 1 quả B40, diệt được 5 tên, 6 tên đầu hàng, 2 tên chạy thoát…Trận thứ 2, diệt được 4 tên, bắt sống 5 tên, 1 tên chạy thoát…

Qua lời khai của tù binh, chúng tôi biết là bọn địch đang dao động, hoảng sợ và có xu hướng tan rã. Chúng khai đã nghe được tin các quân đoàn chủ lực Bắc Việt và quân Giải phóng đang tràn xuống đồng bằng mở trận quyết chiến!...

Riêng anh Hữu mê đi bắn tỉa. Cũng vì quen nếp đánh Mỹ, tôi nghĩ “bắn được thằng nào, giảm được thằng đó” nên đồng ý cho đi. Anh Hữu rủ cả anh chàng Du đi cùng. 4 ngày, cứ mờ sáng là 2 người vục dậy đi, đến quá trưa thì về. Kết quả, bắn được 2 tên ở ngã ba, ngã tư gì đó gần quận Bến Cát…Cơ sở báo ra là bảo an chứ không phải là lính chính quy...

Tuy 2 người lập thành tích nhưng mạo hiểm quá nên tôi không cho đi nữa vì nhiệm vụ chính là săn biệt kích, thám báo!…Thực ra nhiệm vụ của chúng tôi giống như lính gác đường giao liên! Bản chất công việc là như vậy!...

Sau mấy ngày bắt được mấy tên biệt động quân, chúng tôi lại bắt được 8 tên lính Sư 5 đào ngũ. Số đào binh này là thanh niên Bến Cát bị bắt đi lính, trong đó có cả học sinh…Chúng tôi đã giao cho du kích An Điền. Rất may là trong anh em du kích An Điền có người họ hàng nên số đào binh này được bảo lãnh…

Ở An Điền đến cuối tháng 3, chúng tôi trở về đơn vị. Không phải vô kỷ luật tự ý về mà là địa bàn An Điền đã có nhiều đơn vị bạn và lực lượng du kích hoạt động rất mạnh. Tôi thấy nếu ở lại sẽ “trùng dẫm” lên nhau. Về đến nơi, anh Bẩy bảo: “Đang định gọi về!”. Thật là trùng hợp!

Ở nhà, đường 13 và Lai Khê hết sức căng. Ngày nào cũng có súng nổ. Bộ đội Công trường 9 và một số đơn vị (tôi không biết tên) đánh Sư 5 Ngụy liên tục. Nhưng kiểu đánh rất lạ! Cứ như là trò đùa của trẻ con! 2 bên vờn nhau, không đánh to mà chỉ dấm dứ nhau cả ngày lẫn đêm…(Sau này, chúng tôi mới biết Công trường 9 có nhiệm vụ nghi binh, làm như sẽ tấn công Lai Khê đến nơi, nhằm kéo sự chú ý của địch để chúng không đi tiếp viện ở đâu được).

Đơn vị chúng tôi cũng tổ chức đánh được 8 trận với bọn biệt động quân Sư 5. Tổ của Thái bắn được 1 xe M113. Tổ của Kính bắn được 1 xe DMC chở quân… Các trận khác đều là bẫy mìn nhưng không đếm được số địch bị loại khỏi vòng chiến… Tuy vậy, các tổ của Kính, Tâm, Khải và kể cả tổ anh Tư đều có người bị thương phải chuyển phía sau. Đơn vị thiếu mất 6 tay súng. Bởi vậy, chúng tôi về là rất hợp lý!…

Theo tin của cơ sở, địch ở trong Lai Khê và các chốt tiền tiêu quanh căn cứ đã bắt đầu biết sợ! Mật độ tuần tra tăng lên đến mức gay gắt hơn. Chỉ còn bọn biệt động quân và một số đơn vị (không biết thuộc binh chủng nào) vừa được bổ sung là còn hung hăng! Ở Bến Cát, một số gia đình thu vén đồ đạc chạy về Thủ Dầu Một. Còn ở Thủ Dầu Một có hiện tượng dân chạy về Sài Gòn…Trên đường 13 xuất hiện lính Ngụy trà trộn trong dân “di tản”…

Không biết anh Bẩy nghĩ thế nào lại để anh Quý dùng một cái đài (Ra-đi-ô) nhãn Philips to bằng quyển vở học trò…Tối tối, anh em trong đơn vị ăn cơm xong, lại đến hầm anh Quý xúm quanh chiếc đài nghe tin tức…

Thế rồi, không biết bằng cách nào, anh Diệm và tổ trưởng Kính cũng có một chiếc đài nho nhỏ (ta vẫn quen gọi là đài tâm lý chiến) cũng mở nghe được tin chiến thắng trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Có đài của anh Diệm, anh Hữu dò được cả sóng Đài Sài Gòn hát nhạc vàng…Lúc bấy giờ, tôi mới biết ca sĩ Thanh Tuyền hát “Rừng lá Thấp”, ca sĩ Chế Linh “Thành phố buồn”, còn Duy Khánh “Đưa em vào Hạ”…

Bởi “Chim sợ cành cong”, anh Bẩy đến từng hầm nhắc nhở mọi người… Anh em đều chấp hành đưa Ra-đi-ô xuống hầm để âm thanh bớt vọng xa. Bệnh chủ quan khinh địch có dấu hiệu lan truyền trong đơn vị…Rất tai hại!

Về cứ được 3 ngày, tôi định sang ngày thứ tư xuất kích. Định bụng sẽ dò dẫm bày trận địa mìn trước cổng căn cứ Lai Khê như mọi lần…nhưng buổi tối ngày thứ 3, liên lạc Minh đến báo anh Bẩy, anh Quý cho gọi…tôi lật đật xách súng đến “nhận lệnh”. Trong đầu chắc mẩm là sẽ được đi bẫy mìn…Nhưng đến nơi thì không phải! Trong hầm anh Bẩy có anh Quý và 2 người lạ mặc quần áo bộ đội chủ lực.

Tôi chào các anh xong, anh Bẩy giới thiệu ngay: Đây là 2 trinh sát của Miền (một anh giới thiệu tên là Thông, anh kia tên là Tiến), muốn tìm hiểu về Đồng Dù…

Tôi hiểu ngay việc và xin gọi thêm anh Hữu - người đã vẽ được sơ đồ Đồng Dù. Anh Bẩy đồng ý. Một lúc sau, anh Hữu đến. Các anh trinh sát Miền giở tấm bản đồ Đồng Dù ra, chúng tôi nhận ra ngay, đó là sơ đồ chúng tôi vẽ, chỉ có điều được phóng to hơn lên mà thôi, một số chỗ được vẽ thêm những nét ngoằn ngoèo, chắc là mới bổ sung…

2 anh em tôi lần lượt trình bày về hình thái phòng thủ của Đồng Dù. Các anh trinh sát Miền chăm chú nghe. Anh Tiến cặm cụi ghi chép. Thỉnh thoảng các anh hỏi lại một vài chi tiết. Chúng tôi lại phải giải thích…Anh Hữu tỏ ra là một thầy giáo trình bày (bây giờ gọi là thuyết trình) rất rõ ràng, rành mạch…

Anh trinh sát tên Thông hỏi chúng tôi: “Theo các đồng chí, tiến theo hướng nào thuận lợi?

Anh Hữu trả lời ngay: “Nhìn trên bản đồ, Đồng Dù nằm giữa các trục lộ 237, 8A, đường 2 Làng, Quốc lộ 1 và con suối lớn (sau này mới biết tên con suối đó là Bà Cả Bảy dẫn tới căn cứ Trung Hòa), lại được thị trấn Củ Chi án ngữ. Chúng em chỉ đi điều nghiên một mình nên thâm nhập từ phía Đông Bắc. Nơi đó trống trải, là những ruộng lúa và sình lầy, rất khó vượt! Nhưng với lực lượng tấn công đông thì…chỉ có ở hướng có rừng cao su (vùng xã Phước Hiệp)...Căn cứ này rất rộng, các ổ hỏa lực (đề kháng) dày đặc, các lớp rào cài rất nhiều loại mìn!...

Tôi chỉ bổ sung: “Ở hướng có thể vào được thì đã bị đào hào rất sâu và rộng…” (lúc đó, chúng tôi không nghĩ là có xe tăng ta cũng tham gia trận đánh nên không biết nói câu: “Xe tăng không thể qua được”)…

Vũ Quang Đồng

(Còn nữa)



TAG:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: