Phóng sự - Ghi chép

Cuốn theo cuộc chiến

Thứ Năm, 14/10/2021

(Tiếp theo kỳ trước)

Anh Tư đi khuất, tôi định xuống hầm nghỉ thì ngửi thấy mùi thuốc lá thoang thoảng! Không phải lá cò ke (một loại lá rừng được những anh lính nghiện lấy về phơi khô, thái ra thay thuốc lá, mùi rất khét), không phải mùi thơm của Rubi quân tiếp vụ…Mùi thuốc này thơm nhưng khen khét…Tôi xách súng lần ngược theo hướng gió…Kia rồi, ánh lửa lập lòe… Thì ra, anh lính gác đang hút thuốc! Chết chứ lỵ!

Tôi hỏi: Ai đứng gác đấy?

Đáp: Báo cáo, em!

Thì ra là một tân binh! Tôi bảo: Dập thuốc ngay đi em!

Điếu thuốc được dập, nhưng mùi thơm vẫn lan theo gió nhè nhẹ. Chắc người tân binh đó biết lỗi nên im lặng.

Tôi hỏi: Em gác lâu chưa?

Đáp: Em vừa thay phiên, được nửa tiếng rồi, anh ạ!

Tôi nói: Thôi! Em nghỉ đi, để anh gác cho!

Người lính lưỡng lự. Tôi giục:

- Về nhanh hầm đi, không mùi thuốc tỏa ra rộng hơn đấy!

Nghe vậy, chàng tân binh mới rời khỏi vị trí và về hầm. Đó là chiến sĩ mới ở tổ của Tâm! Đơn vị bỗng dưng nảy nòi ra mấy anh lính nghiện thuốc lá…Gay thật! Theo quy định, tất cả ai nghiện thuốc lá đều phải cai. Không phải chúng tôi gây khó khăn, mà đơn vị đã từng bị trả giá - Đó là một bài học không đẫm máu nhưng ngán đến chết!

Đầu năm 1970, ở căn cứ Bầu Đưng, chỉ vì mấy chiến sĩ hút thuốc lá bị nhắc nhở nên bực tức vứt điếu thuốc đang hút dở ra rừng. Mẩu thuốc đó vẫn âm ỉ cháy và mùi thơm lan ra rất xa…Thế là chúng tôi ăn đòn! Có khói…Máy bay cá rô và bọn biệt kích Mỹ tìm tới…May là có mấy chiến sĩ ngồi trên khơi phát hiện ra trước nên báo động kịp…

Dù trận đó không có thương vong, nhưng chạy cả ngày vì bị bom, pháo bắn vô tội vạ. Máy bay cá rô ẻng...ẻng sát ngọn le. Trực thăng chiến đấu bắn rốc két liên hồi vào tất cả các bụi rậm, gốc cây, tổ mối, còn pháo thì bắn theo làn không biết đâu mà tránh…Từ đó, đơn vị kiên quyết không cho ai hút thuốc lá nữa!..

Tôi ngồi thu mình quan sát. Xung quanh vẫn tĩnh lặng…Mùa khô….gió nhẹ nhưng lá rừng vẫn rơi xào xạc…

Thế rồi đêm trôi qua cũng nhanh, mặt trời ở phía đông hừng sáng. Anh nuôi Diệm và các phụ tá dậy sớm nấu cơm, vắt cho mỗi người một nắm suất trưa (là suất cơm phòng ngừa, nếu phải đánh nhau thì cũng có cơm nắm để ăn) và chia cơm sáng cho các tổ….

Một tân binh (tôi không biết tên) thay tôi cảnh giới. Tôi trở về hầm, các tổ trưởng đều có mặt (trừ tổ trưởng Thái chưa về). Anh em lần lượt kể lại tình hình hoạt động của tổ, khó khăn và đề nghị...

Tất nhiên, nghe để biết chứ không phê phán gì cả, bởi chiến trường là vậy. Mỗi lần rút kinh nghiệm đều kèm theo máu đổ, thương vong…

Đây không phải là lần đầu chúng tôi bị như “rắn mất đầu”. Nhưng lần này cả anh Bẩy và anh Quý bị đi viện (không biết bao giờ mới về!). Theo quy ước, tôi thay anh Bẩy phụ trách đơn vị. Do đó, sau khi nghe anh em báo cáo, tôi yêu cầu mọi người thảo luận về 3 việc:

Một là: Xếp sắp lại đội ngũ (thực ra chỉ là phân công tân binh về các tổ cho phù hợp nguyện vọng anh em - một cách để ổn định tư tưởng).

Hai là: Tiếp tục tổ chức đánh địch theo kế hoạch tác chiến mà anh Bẩy, anh Quý làm dở dang.

Ba là: Khẩn trương vẽ bản đồ “Điều nghiên Đồng Dù” để chuyển lên cấp trên! (việc này tôi giao cho anh Hữu “hoàn thiện”).

Về 6 tân binh, bổ sung cho các tổ Kính 1 người, Khải 2 người, Tâm 2 người. Trường hợp Minh y tá chuyển sang tổ hậu cần. Tôi cũng đề nghị anh em đồng ý để anh Diệm làm tổ trưởng tổ hậu cần (gồm 4 người là anh Diệm, Minh liên lạc, Minh y tá và Long anh nuôi)…Tất cả đều nhất trí!

Đến phần nhiệm vụ cụ thể. Tôi đề nghị anh Tư phụ trách thêm 2 tổ của Kính và Tâm. Còn tôi cũng thêm 2 tổ của Khải và Thái (mặc dù Thái vẫn chưa về)! Như vậy, đơn vị hình thành 2 mũi chiến đấu. Trước mắt, anh Tư tiếp tục lo hỏa khí cho đơn vị, còn mũi của tôi sẽ đi nghiên cứu thực địa đường 13.

Các tổ có tân binh tranh thủ hướng dẫn nghiệp vụ theo cách “vừa học vừa làm” để anh em có thể nhập cuộc được ngay!

Sau cuộc họp, tất cả đều khẩn trương vào việc được phân công. Sau 3 ngày, tổ anh Tư đi liên hệ với Hậu cần 814 lấy về được 8 bao cát Mỹ thuốc TNT (gần 2 tạ thuốc nổ), 50 kg hợp chất C4, đạn B40, AK và kíp mìn…Nếu cộng với hàng tồn kho thì số hỏa khí anh Tư lấy về cũng đã tạm ổn!

Ở nhà, anh Diệm lo đủ gạo, muối, cá khô. Đồng thời, lấy cây le đan được hơn 20 khuôn mìn định hướng (ĐH) các loại. Tổ của Khải cũng lắp hỏa cụ được hơn 30 quả mìn loại 2 lon, 3 lon, 4 lon và 5 lon.

Sau 4 ngày bám địa bàn Lai Hưng - Lai Khê, anh em trinh sát của Khải và Thái B40 về báo cáo: Đường 13, đầu xã Lai Hưng có một toán lính Ngụy (khoảng 30 tên) thường xuyên đi tuần. Chúng chia làm hai nhóm, đi bộ, không có xe xích (M113) đi kèm, yểm trợ. Chúng đi cách nhau khoảng 10-15 phút… Có vẻ là khiêu khích, hoặc thăm dò…

Có thông tin, tôi và anh Tư cho họp đơn vị. Là người được anh Bẩy giao cho bám địa bàn, anh Tư cho rằng: “Đây là bọn biệt động quân của Sư 5. Chúng thường nống ra câu nhử ta!” Tổ trưởng Kính được phân công chuyên bám Đường 13, cho rằng: “Do quân ta đánh mạnh ở phía Bàu Bàng, Phước Long… nên địch tung quân ra giữ đất, giữ căn cứ!”…Các anh em cũng tán đồng với ý kiến của cả anh Tư và Kính…

Thực ra, lúc đó, chúng tôi không có ai đoán được âm mưu địch tuần tra để làm gì, chỉ biết rằng: Địch giơ mặt ra là ta đánh! Thế thôi!

Theo sơ đồ trinh sát vẽ thì bọn địch đi từ Lai Khê ra. Chúng đi dọc đường 13 xuôi hướng Bến Cát khoảng 3 - 5 km, sau đó quay về. Có hôm chúng tạt vào rừng 300 - 500 mét, có vẻ như sục sạo... Có hôm, chúng đi ngược lên phía Bàu Bàng cũng vài ki lô mét thì quay trở lại…

Chúng tôi đều trăn trở với câu hỏi: “Một đội quân quen hành quân bằng ô tô, có xe tăng, xe bọc thép, trực thăng yểm trợ… bỗng dưng đi bộ…Không phải là chuyện lạ sao?”

Sau khi cân nhắc, tôi và anh Tư thống nhất quyết định chặn địch ở đầu Lai Hưng hướng về Bến Cát khoảng hơn 2 km! Bởi vì, địch đi bộ lòng vòng cố tình tỏ ra sơ hở khiêu khích để ta chọc vào, thì ta cũng sẵn sàng chào đón - chọc vào tổ kiến lửa đó!

Chúng tôi suy nghĩ: Nếu gặp du kích, bọn địch sẽ bao vây truy kích. Nếu gặp nhiều người mà lại là bộ đội chủ lực, thì ắt hẳn, chúng gọi máy bay, pháo tọa độ bắn tới! Vậy nếu gặp đặc công thì chúng sẽ ra sao?

Mặc dù Sư 5 Ngụy rất mạnh, có đội quân tinh nhuệ với tinh thần “Chống cộng đến cùng”, nhưng qua 3 tháng tử thủ ở An Lộc - Hớn Quản, ngoài mặt chúng vênh vang nhưng thực chất nhuệ khí chiến đấu của chúng cũng không còn được bao nhiêu! Huống hồ, từ khi Mỹ rút, chúng không còn chỗ dựa, ắt hẳn càng hoang mang, lo sợ…

Bởi vậy, khi tôi nêu quyết tâm “đánh một trận”, thì tất cả anh em đều thể hiện ý chí rất cao….

Vũ Quang Đồng

(Còn nữa)



TAG:
Tin tức Mới:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: