Phóng sự - Ghi chép

Cuốn theo cuộc chiến

Thứ Ba, 12/10/2021

(Tiếp theo kỳ trước)

... Chúng tôi có 3 ngày chuẩn bị. Không biết chọn ngày tốt - ngày xấu, tôi lại dẫn tổ vượt sông Sài Gòn sang An Phú (Củ Chi). Chuyến đi an toàn, chót lọt!

Trước lúc xuất quân, anh Bẩy đưa cho tôi một tờ giấy được xé ra từ quyển “Nhật ký ghi công” của anh. Trong đó, ghi các đầu việc phải làm, các địa chỉ cơ sở cần liên hệ và mật khẩu, tín hiệu, quy ước liên lạc với cơ sở của 6 xã Nhuận Đức, An Nhơn Tây, Phú Hòa Đông, Tân Phú Trung, Trung Lập Hạ và Phạm văn Cội.

Tuy nhiên, trong thời gian ở Củ Chi, tôi chỉ đến được 3 xã An Nhơn Tây, Nhuận Đức và Phú Hòa Đông… còn 3 xã không đến được. Trong tờ giấy đó có cả tên người chỉ huy của một số đơn vị du kích và 3 chữ: “Chúc quyết thắng!”…

Đây cũng là lần đầu tiên, tôi thấy anh Bẩy như “Khổng Minh” (quân sư nhà Thục Hán trong Tam Quốc Chí) trao “túi gấm” cho tướng ra trận, dặn lúc nguy cấp thì mở ra và cứ làm “Như thế, như thế” - Rất kỹ lưỡng!

…Ở đơn vị này, chỉ có tôi và anh Tư là ở với anh Bẩy lâu nhất, từ năm 1969. Từ lúc đơn vị đa số là người miền Nam, nay chỉ còn một mình anh Bẩy. Nếu tính từ đó đến cuối 1974, nhiều lần được bổ sung quân, lần lượt anh em hy sinh, bị thương phải chuyển về phía sau thì 3 chúng tôi cũng được gọi là cao số nhất…

Sát cánh bên nhau nhiều năm, tôi biết anh Bẩy là người không kỹ tính, nhưng rất tỷ mỷ, thận trọng trong công việc. Mỗi lần dẫn tôi đi gặp cơ sở kể cả ở Bến Cát, Thủ Dầu Một, Lai Hưng, Củ Chi… là tôi lại học thêm được anh rất nhiều kinh nghiệm, nhất là cách tiếp cận làm công tác dân vận với cơ sở.

Lần nào cũng vậy, chúng tôi đến và lẳng lặng đi. Tôi luôn được làm nhiệm vụ cảnh giới - nếu có sự cố, sẽ là người hy sinh trước tiên!…Thế mà nay, ông anh cho tôi biết hết các đơn vị bạn và cơ sở ở Củ Chi, thì không phải là phá vỡ nguyên tắc giữ bí mật hay sao?

Các địa chỉ này đều là những người chí cốt giúp cách mạng từ thời kháng chiến chống Pháp, vượt qua Luật 10/1959, qua Mậu Thân 1968 và đến bây giờ!. Trong danh sách anh Bẩy giới thiệu có cả những gia đình có người thân khoác áo Ngụy. Khi gặp họ, tôi nói đúng mật khẩu thì được đối đãi hết sức chu đáo, tận tình…Đặc biết, có 1 cơ sở ở chi khu Củ Chi (tôi không biết mặt) đã cung cấp cho chúng tôi bản đồ căn cứ Đồng Dù - tuy vẽ bằng tay, nhưng rất chi tiết!

Đây là tài liệu rất quý! Bởi vì, suốt mấy năm trời, chúng tôi điều nghiên mà không biết diện tích thật của căn cứ Đồng Dù là bao nhiêu. Có người bảo là 10 cây số vuông, có người bảo 7 cây số vuông… Chúng tôi không đi hết được căn cứ mà chỉ biết là nó rất rộng - vào đó rất dễ bị lạc! Nay, có được bản đồ từ chính người ở đây vẽ cho thì còn gì bằng!

Chúng tôi vừa về An Phú 4 ngày thì đã phải trốn càn. Không dám vượt sông Sài Gòn vì giang thuyền của địch tuần tra dày đặc. Không dám xuống địa đạo vì sợ bị hun khói độc…Chúng tôi chia thành 2 nhóm để bảo đảm an toàn. Chúng tôi chạy ra bờ rạch hoặc bờ sông vùi người xuống bùn. Có hôm vùi từ sáng đến chiều tối, địch mới rút. Lên bờ chân tay anh nào cũng bủn rủn, đứng cũng không vững.

Cuối năm 1974, thời - thế đã thay đổi! Bị ta tấn công liên tục, Sư 25 Ngụy bắt đầu có dấu hiệu co cụm. Lính Ngụy đào ngũ gia tăng. Có ngày du kích Củ Chi tiếp nhận cả một tiểu đội Ngụy đầu hàng. Ở An Phú, Trung Lập Hạ có nhiều tên lính Ngụy chạy vào rừng tìm giải phóng để nộp vũ khí…

Trước nguy cơ bị tiêu diệt, Sư 25 Ngụy ở Đồng Dù cho đào hào, đắp lũy, tăng hàng rào dây thép gai, cài thêm các loại mìn chống xâm nhập và nham hiểm hơn, chúng đưa gia đình quân nhân vào cứ, lập thành khu gia binh… để làm bia sống đỡ đạn cho chúng!

Cũng từ tháng 10/1974, ở Củ Chi, các lực lượng chính trị ở vùng địch chiếm tăng cường công tác địch vận. Các lực lượng vũ trang của ta dùng chiến thuật đánh lấn nhằm bao vây, cô lập các chốt và các căn cứ.

Người dân ở các làng, ấp bắt đầu công khai đấu tranh với chính quyền Ngụy ở địa phương, chống bắt thanh niên đi lính, đòi phá bỏ ấp chiến lược, chống bắt xâu, đào hào, cắm chông...

Du kích các xã ở Củ Chi chuyển thư của Mặt trận dân tộc giải phóng kêu gọi binh sĩ địch đào - rã ngũ, hoặc ra hàng làm cho nội bộ địch càng lục đục. Nhiều đội phòng vệ dân sự, phòng vệ xung kích, canh gác ban đêm của địch bí mật liên hệ với du kích xin đầu hàng. Họ sẵn sàng dẫn đường cho quân giải phóng “diệt ác, phá kềm”, triệt hạ đồn, bốt, chốt canh. Bởi vậy, bọn chỉ huy Sư 25 Ngụy ở Đồng Dù càng điên cuồng xua quân đi càn quét thì binh lính của chúng lại càng phải dè chừng, nơm nớp lo sợ bị tấn công.

Tối đêm, chúng tôi lại đi liên hệ với các đơn vị du kích. Nhờ các anh chị dẫn đường để vẽ bản đồ các chốt vành đai Đồng Dù. Các chỉ huy du kích đều rất nhiệt tình, trong đó có anh Hai Mạnh ở An Phú thường xuyên dẫn chúng tôi đi! Anh có 4 người con thì trai cả 17 tuổi, gái thứ 15 tuổi đều tham gia du kích, làm liên lạc, dẫn đường rất nhanh nhẹn. Cũng may cho chúng tôi, từ tháng 12 năm 1974, nhiều chốt vành đai của Đồng Dù bị ta tấn công, san phẳng và làm tan rã. Nhiều chốt lính Ngụy “bỏ của chạy lấy người”…

Thời hạn anh Bẩy giao sắp hết, không hiểu mấy chiến đấu viên của tôi nghĩ gì mà anh Diệm than thở:

- Hồi ngoài Bắc, tôi được nghe Củ Chi kiên cường lắm! Nay được đến tận nơi mới biết ác liệt thế nào! Mang tiếng ở đây rồi mà không được đánh trận nào thì…tiếc quá!

Tôi nghe biết ngay là anh Hữu xui vì Thái và Du không bao giờ đề nghị đi đánh nhau cả! Duy chỉ anh Hữu là máu chiến. Tôi hỏi anh em: “Có nên làm một trận không”? Đúng như tôi nghĩ, anh Hữu nói ngay: “Phải thử một trận, tổ trưởng ạ”!

Tôi nhìn anh em, có vẻ ai cũng muốn đánh. Thái nhìn tôi chỉ cười…kiểu cũng đồng ý! Thiểu số phải theo đa số, tôi bảo: “Được! Tất cả hãy chuẩn bị”!...Thực ra, về nguyên tác là không được! Nhiệm vụ sang đây chỉ là điều nghiên Đồng Dù thôi…Nhưng…tôi cũng muốn đánh một trận…nhiều cơ hội tốt quá!

Gần cuối tháng 11, anh em tôi “phục kích” một toán biệt động quân ở đường đi của xã An Nhơn Tây (hình như là đường 15, đoạn gần nghĩa trang liệt sĩ Củ Chi bây giờ). Bằng 1 quả cờ-lây mo và 3 quả lựu đạn, chúng tôi hạ được 6 tên địch, bắt được một tên. Mấy thằng Ngụy không trúng mìn bỏ cả đồng bọn chạy mất tăm.

Tên tù binh chúng tôi bắt được khai tên là Tám Thạnh, sinh năm 1945, ở Lái Thiêu, cấp bậc Thượng sĩ nhất... Nó vẽ được bản đồ bố phòng của căn cứ Đồng Dù khớp với những gì chúng tôi điều nghiên được…

Vì tên lính bị thương gãy gióng chân trái nên không thể chuyển đi xa được, chúng tôi đành phải thả! Chúng tôi nhờ anh em du kích đón xe đò và 3 người phụ nữ ra giúp. Trước khi thả Tám Thạnh, chúng tôi còn cho tên tù binh 2 viên vitamin K cầm máu...Tám Thạnh khóc như mưa, còn anh lái xe đò thì thay mặt nó cảm ơn rối rít…

Tháng 8 năm 1975, chúng tôi vô tình gặp lại Tám Thạnh trên đường gần thị trấn Củ Chi khi cùng vợ đang bán nước dừa. Anh ta kể: “Về đến nhà, gia đình đưa tui đi nhà thương ở Sài Gòn, thế là bị cưa mất cái chân! Nhờ thế mới được sống với vợ con”! Chị vợ cứ khóc và cảm ơn giải phóng không giết chồng suốt… Anh chồng chặt dừa mời chúng tôi uống…

Tất nhiên là phải uống rồi, bởi đó là công tác dân vận và cũng là một cách thể hiện thiện chí. Anh Diệm rút tiền ra trả (giá 1 cốc nước dừa là 15 đồng tiền mới giải phóng). Chị vợ quyết không nhận, chỉ đến khi tôi giải thích về kỷ luật của Bộ đội Cụ Hồ: “Không được tơ hào mũi kim, sợi chỉ của dân”, thì chị ta mới nhận…

Công tác điều nghiên Đồng Dù của chúng tôi đang “bon”, thì giữa tháng 11 năm 1974, anh Bẩy cho liên lạc Minh sang gọi chúng tôi về…Rất bất thường!...

Vũ Quang Đồng

(Còn nữa)



TAG:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: