Phóng sự - Ghi chép

Cuốn theo cuộc chiến

Thứ Năm, 07/10/2021

(Tiếp theo kỳ trước)

Chôn mìn trên Lộ 13 ở gần căn cứ Lai Khê đã khó, nhưng ở đường 8 Đồng Dù nguy hiểm hơn nhiều! Địch đi tuần liên tục…

Nếu ngồi đào còn dễ, nhưng phải nằm đào. Tay phải cầm cuốc chim rỉa từng viên đá lát đường, rồi lấy chính những viên đá đó lấp lại, xóa dấu vết; không phải chỉ đào 1 hố mà phải đào 3-4 hố; không phải chỉ có 1 đêm mà rất nhiều đêm; không phải chỉ có 1 lần mà rất nhiều lần… làm một công việc hết sức nặng nhọc.

Một đêm đào không xong, đêm sau lại đến đúng điểm đó đào tiếp…Nhưng trước khi đào đều phải kiểm tra xem có gì lạ không. Nếu bị địch phát hiện, nhất định chúng đặt bẫy mìn, hoặc sẽ cho biệt kích phục kích…

Đêm đêm, cứ khoảng 3 giờ sáng, chúng tôi mới đến điểm đào hố mìn. Dù phải ép bụng xuống đất, nhưng tay cầm cuốc chim vẫn có thể bổ thẳng cánh xuống mặt đường mà không sợ gây tiếng động…Đó là nhờ Đồng Dù nhiều tiếng ồn.

Bọn địch trong căn cứ hay bị giật mình nên thỉnh thoảng lại xả đạn. Một khẩu đại liên bắn sẽ có cả đàn bắn theo và đặc biệt là pháo đĩ bắn liên tục. Đó là chưa nói đến pháo sáng của địch phụt lên sáng cả bầu trời! Bọn địch không thể biết được là, chúng tôi chỉ đợi pháo sáng rơi nửa chừng thì lại vục người lên đào tiếp…

Có lẽ lúc đó ánh sáng yếu nên mắt thường hay bị “quáng gà” và có khả năng địch chủ quan, không nghĩ chúng tôi dám đến gần chúng như thế!

Cực nhất là những đêm ông trời “lúc tỉnh lúc say” làm khổ chúng tôi! Đang đâu, trời trút cho một trận mưa rào, chúng tôi tranh thủ đào thật nhanh. Mưa ào ào một lúc rồi tạnh hẳn, lại phải đào chậm lại…

Có vài lần, chúng tôi tranh thủ trời mưa ra sức đào cho xong, nào ngờ, xe tuần tra của địch đi đến…Vì tiếng mưa rơi ràn rạt trộn với tiếng động cơ xe nên không phân biệt được, khi thấy ánh đèn pha lấp loáng thì…xe địch đã đến rất gần!

May là trời mưa to cản trở tầm nhìn, nên chúng tôi “lẩn” được nhanh, chậm một chút thì không chống đỡ nổi.

Mấy tháng trời đào đào, lấp lấp, tay ai cũng chai cứng, lấy lại là anh em có thêm kinh nghiệm. Mắt nhìn đêm cũng tinh hơn, tai nghe động tĩnh cũng thính hơn và chân lúc nào cũng “gài số lùi” nhanh hơn. Phản xạ trước cái chết rất lẹ!

Sau vài ngày nghe tin M113 hoặc DMC trúng mìn…Thế là tất cả đơn vị lại phấn khởi! Anh Bẩy bảo là: “Không cần biết địch chết bao nhiêu, mìn cứ nổ là được rồi!”

Nếu đánh mìn thì ai được phân công việc gì thì làm việc đấy. Nhàn nhất là cảnh giới! Phát hiện có động tĩnh gì chỉ việc ra hiệu rồi co chân lủi cho nhanh. Chạy xa xa một chút thì dừng lại, chọn chỗ nấp rồi giương súng “yểm hộ” anh em rút sau.

Nếu ở vai đào mìn, thì tập trung đào, đặt quả nổ và lấp lại, xóa dấu vết, rồi rời khỏi trận địa. Mìn nổ thế nào thì nổ…Hưng phấn lên thì cũng chỉ nói: “Chắc có thằng (địch) mắc bẫy!” Còn nếu bình tĩnh thì chỉ cần nói: “Xong”! Thế thôi!

2 tháng đầu, cách đánh này hiệu quả, nhưng đến tháng thứ 3 thì hình như bọn địch ở Chi khu Củ Chi - Đồng Dù ( và ở cả Lai Khê, Bến Cát, Rạch Bắp, Thanh An, Thủ Dầu Một) rút được kinh nghiệm! Sáng ra, chúng cho công binh rà mìn đi trước và gỡ được vài quả…

Chúng tôi đoán: Nhiều khả năng có bọn chiêu hồi mách nước nên địch mới thế! Vì vậy, phải giãn khoảng cách và thời gian đặt mìn ra xa hơn, đồng thời đặt thêm mìn bẫy luôn cả bọn công binh và xe rà mìn...Làm vậy, địch luôn phải đề phòng và chúng bớt hung hăng…

Do ở Củ Chi có nhiều đơn vị bạn cũng tham gia bẫy mìn nên giữa tháng 7, anh Bẩy gọi chúng tôi về Long Nguyên săn biệt kích và điều tổ anh Tư trở về căn cứ lo chất nổ cho đơn vị. Anh Tư lại đi cưa bom xịt, pháo lép lấy chất nổ làm mìn...

Với tổ tôi được giao đi săn biệt kích, thám báo năm 1971 rất khó khăn! Bọn biệt kích thám báo có nhiều mánh khóe thủ đoạn hơn nên nhiệm vụ của chúng tôi cực kỳ nguy hiểm! Bọn biệt kích, thám báo là những con người thật chứ không phải là những tấm bia số 4, số 8 làm bằng cót!

Chúng được tuyển chọn trong những tên khát máu nhất của lính Ngụy; được huấn luyện kỹ càng, giỏi võ, bắn súng và có rất nhiều mánh khóe, xảo quyệt, tinh vi! Đối mặt với chúng, khó đánh hơn so với bọn bộ binh thông thường và bọn biệt động quân liều lĩnh!

Những lần tổ anh Tư săn biệt kích đều dùng súng K63 bắn tỉa tiêu diệt tên điện đài và tên chỉ huy, sau đó mới dùng B40. Cách đánh của anh Tư hiệu quả, nhưng có một lần không biết tình huống “bất thường” xảy ra như thế nào, anh Tư bỏ mất khẩu K63.

Tầm bắn hiệu quả của K63 khoảng 400/800 mét, nhưng B40 kịch tầm chỉ có 150 mét. Ở tổ anh Tư, bắn được thằng chỉ huy và thằng điện đài rồi, địch nghe thấy tiếng súng, nhận ra hướng bắn tới và chúng phản ứng ngay.

Tầm bắn hiệu quả của AR15-16 là 450 mét, M79 được hơn 150 mét…Khi đã hạ được địch rồi phải chạy ngay, nhưng anh Tư lại nán lại để bắn thêm 1 quả B40, cho nên anh em dễ bị thương vong.

Còn với cách đánh của tôi, đợi địch đến gần, đúng tầm là cho B40 “phụt”. Với sức công phá của đạn B40, địch bị bất ngờ sẽ hoảng loạn, nhân thời cơ đó, ta chạy! Còn với khẩu K63, bắn xa được thì dùng để bắn xa đi, còn nếu đánh gần sẽ rất vướng víu.

Năm 1969-1970, phải đối đầu trực tiếp với lính Mỹ. Chúng có trực thăng chiến đấu đi kèm, pháo bầy bắn yểm trợ rất chính xác, nhưng khi bị chúng tôi áp sát dùng B40 và AK áp đảo …bọn biệt kích Mỹ tháo chay ngay! Khi địch bỏ chạy thì cũng là lúc ta thoát ly cho nhanh!

Năm 1971, đơn vị chúng tôi vẫn dùng lối đánh này với biệt kích Ngụy. Nhưng thú thực, đây là lối đánh “liều mạng”, bởi bọn Ngụy rất hùng hổ, chúng không sợ tốn người và còn cậy được Mỹ cho dư thừa bom đạn…

Khi chạm trán với chúng, ta chủ động tiến công, dùng B40 khai hỏa trước, nhưng vì ta chạy bộ, lủi ở trong rừng, còn địch thì có phi pháo và máy bay! Chúng nhanh gấp trăm lần chúng ta… nên không chạy nhanh thì chỉ có chết! Ở đây không bàn tới chuyện “Gan anh hùng”!..

Tuy nhiên, bây giờ đã là cuối 1972, Mỹ rút đi nhiều, chỉ còn Ngụy…Tình thế đã khác! Quân Ngụy muốn hay không cũng đã nhụt ý chí rất nhiều! Chúng bắt đầu nghĩ tới bảo toàn tính mạng, gia đình, vợ con và ăn sung mặc sướng…Như vậy, tôi lại có cơ hội áp dụng lối đánh cũ…

Vũ Quang Đồng

(Còn nữa)



TAG:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: