Phóng sự - Ghi chép

Cuốn theo cuộc chiến

Thứ Tư, 06/10/2021

(Tiếp theo kỳ trước)

…Tháng 4 năm 1972, Chiến dịch Nguyễn Huệ mở màn.

Quốc lộ 13 - còn gọi là Lộ Lệ Xuân. Km số 0 bắt đầu từ Sài Gòn và kéo dài lên đến tận Lộc Ninh - biên giới Việt - Miên, rồi nối với đường số 7 của Campuchia. Năm 1972 là năm đẫm máu: Chiến dịch Nguyễn Huệ kéo dài đến tháng 1 năm 1973!

Từ tháng 1 năm 1972, các đơn vị chủ lực của Miền đã rục rịch chuyển quân. Nhiều đơn vị chủ lực hành quân qua căn cứ chúng tôi. Họ không ồn ào, nhưng rất khí thế. Sướng mắt nhất là các đơn vị vác ĐKB, H12 đi qua. Có đơn vị mỗi chiến sĩ vác một cái thùng nhỏ, nghe nói là tên lửa chống tăng mới nhất. Chúng tôi còn nghe xe tăng của ta cũng đã vào đến B2, khiến ai nấy đều háo hức…

Chúng tôi được thông báo: Sau khi giải phóng được Lộc Ninh, quân ta chuyển hướng tấn công và vây lỏng địch ở An Lộc - Hớn Quản. Ở địa bàn chúng tôi, địch liên tục điều động phương tiện và binh lực chi viện cho An Lộc - Chơn Thành và tăng cường phòng thủ Thủ Dầu Một, Bến Cát...

Nhiều nhóm biệt kích xâm nhập vào rừng Long Nguyên, Bầu Đưng… Pháo địch từ Tân Phú Trung, Đồng Dù, Lai Khê, Phú Lợi… bắn dồn dập hơn. Các loại máy bay của địch chở quân, pháo dày đặc. Máy bay Cá lẹp quần quãi tuần tiễu, săn lùng, yểm trợ bộ binh cả ngày lẫn đêm…Từ năm 1969 đến đầu năm 1972, tôi chưa thấy lúc nào địch cuống cuồng, vội vã đến như vậy…

Anh Bẩy đi gặp các đơn vị bạn để phối hợp tác chiến. Các tổ chúng tôi đi trinh sát tình hình địch trên Lộ 13 đoạn từ Thủ Dầu Một - Bến Cát, từ Bến Cát lên Bầu Bàng và các cứ Lai Khê. Tổ của Kính sang Đồng Dù…Sau khi nghe báo cáo địch tình của đơn vị, cấp trên cho phép chúng tôi có thể đánh địch ngược lên phía Bầu Bàng! Nghĩa là, đơn vị được cơ động “du di” trên dưới 20 km, chúng tôi chưa bao giờ được đi xa như thế!

Nếu chỉ là tuyến đường 20 km, đơn vị chúng tôi với 20 người cũng đã phải chia ra để đánh địch. Xé lẻ dễ cơ động, bảo đảm bí mật, bất ngờ và an toàn lực lượng, nhưng bất lợi, vì khó đánh trả khi bị địch bao vây. Chẳng may, có người bị thương, sẽ rất khó khăn…Thế nhưng, mệnh lệnh là mệnh lệnh! Khó khăn đến mấy cũng phải chấp hành!…

Tin tức chiến trường mà chúng tôi biết được là nhờ anh, chị, em dân công hỏa tuyến - lúc đi, họ tải đạn; lúc về, họ tải thương - kể cho nghe. Thời gian các đoàn dân công đi qua dừng lại ở khu vực căn cứ của chúng tôi không lâu nên thông tin nghe được cũng chỉ bập bõm…

Khi dân công tải thương dừng lại nghỉ lấy sức, chúng tôi đến hỏi thăm thì thấy anh em thương binh có cả bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, du kích. Đến với anh em vừa động viên vừa để tìm đồng hương…Nếu gặp được đồng hương ai cũng mừng nhưng chỉ biết động viên nhau cố gắng mà thôi…

Để chuẩn bị chiến trường, trước khi “lâm trận”, anh Bẩy triệu tập cả đơn vị cùng nghe, xem “bản đồ - sa bàn tác chiến” được các tổ vẽ trên đất. Anh em sôi nổi thảo luận, tham gia ý kiến và thống nhất cách đánh. Sau đó, anh Bẩy phân công mỗi tổ “phụ trách” một đoạn đường. Tính theo cự ly, 2 tổ đi ngược, 2 tổ đi xuôi …Riêng tổ tôi, anh Bẩy phân công đi bám đường giao liên và bảo đảm an toàn “thông tuyến”. Nhận nhiệm vụ, chúng tôi lên đường.

Trên Lộ 13 có nhiều đơn vị của ta “án ngữ chặn địch” nên đơn vị chúng tôi chọn nơi ít bị động chạm nhất, đó là gần với cổng căn cứ Lai Khê, gần cửa ngõ vào quận Bến Cát và thị xã Thủ Dầu Một. Bên Củ Chi thì gần cổng căn cứ Đồng Dù (do tổ anh Tư phụ trách. Chuyến đi này, anh Tư đã cùng du kích Củ Chi đánh được 2 trận…).

Đầu tháng 3, trên Lộ 13, nghe tin rục rịch quân giải phóng tấn công, người dân An Lộc - Hớn Quản và dọc đường 13 dắt díu nhau trên các loại phương tiện giao thông xuôi về Thủ Dầu Một. Giữa tháng 4, không chỉ riêng có dân thường với đủ các loại phương tiện (ô tô, xe máy, xe đạp) và cả đi bộ gồng gánh vội vã về xuôi, trong đó có cả lính Ngụy trà trộn vào đoàn người…Chúng tôi không được lệnh bắn mà để họ đi qua…

Theo anh Bẩy thông báo thì, các đơn vị bạn ở gần chúng tôi (C61, C65, pháo binh Bến Cát, du kích Long Nguyên…) đã phối hợp với các đơn vị chủ lực tổ chức chặn địch dọc theo Lộ 13 từ Bắc Thủ Dầu Một, qua Bến Cát, lên đến Bầu Bàng và xa hơn là Tàu Ô, An Lộc…

Cuộc chiến Tàu Ô kéo dài 150 ngày đêm (từ ngày 5/4 đến 28/8/1972) vô cùng ác liệt. Bộ đội Công trường 7 và các đơn vị phối thuộc đánh nhiều trận (có thông báo là ta tiêu diệt được hơn 8.000 tên địch), phá hủy nhiều phương tiện, kho vũ khí, buộc địch phải từ bỏ ý đồ giải tỏa Quốc lộ 13… Nghe nói ở An Lộc - Hớn Quản còn giằng co, ác liệt hơn nhiều….

…Theo địa bàn được phân công, anh Bẩy dẫn đơn vị đi đánh úp bọn địch ở một số chốt trên đường 13, chặn, quấy rối địch đi tiếp viện cho An Lộc, Tàu Ô… Tổ chiến đấu của Kính “án ngữ” cổng căn cứ Lai Khê cũng đánh chặn được 3 trận. Sau này mới biết, cấp trên chỉ cần chúng tôi chặn đánh nhằm gây hoang mang cho bọn địch ngay từ căn cứ xuất quân chi viện cho An Lộc chứ không phải đánh “vùi” (đánh tổng lực)…

Hai bên đường 13 trống lốc. Thỉnh thoảng mới có những lùm cây, bụi gai lúp xúp. Những nơi đó, địch thường để ý. Nếu dựa núp vào các lùm cây, bụi gai đó, chắc không sống nổi nửa ngày! 6-7 tháng trời chúng tôi chỉ lẽo đẽo làm một việc: Đặt bẫy mìn gây rối nên phải làm mọi cách để bám đường…

Mặt đường 13 đều rải đá, lèn cứng nên đào hố chôn mìn rất mất thời gian. Hai bên tà luy là rãnh (hào, mương) sâu, mùa khô cạn nước, nhưng cuối tháng 4, bắt đầu vào mùa mưa, nước đầy rãnh, bùn dày đến bọng chân, rất khó vượt qua. Lên bờ, lính bộ binh ta hay để lại những dấu chân bùn. Hằng ngày, bọn địch đi tuần, nếu ở trên xe chạy nhanh thì không nhìn thấy vết nước, nhưng với bọn biệt kích, thám báo thì sẽ phát hiện ra ngay và điều gì đến sẽ đến!.

Có những hôm, suốt cả ngày, chúng tôi phải “nằm im” sát đường 13 và chỉ được ngóc đầu cao hơn một chút đủ để “xem” địch hành quân... Tối đến, anh em chúng tôi rời chỗ nấp bò lên đường chọn điểm đào hố chôn mìn. Dựa vào vết lăn của xe xích và xe chở quân in trên mặt đường mà xác định vị trí đào hố…Do mặt đường rất cứng nên phải dùng cuốc chim nên tốc độ đào hố hơi chậm….

Mỗi quả “5 lon” nổ mạnh ngang bằng với ĐH5, có thể làm đứt xích xe tăng và đủ sức đánh lật được xe xích M113 và xe DMC. Anh em chúng tôi thay nhau đào hố. Có đêm đào một lúc là xong 3 - 4 hố, nhưng có đêm vì địch đi tuần dày quá nên phải đào lên, rồi lấp lại nhiều lần mới xong.

Vì mặt đường cứng quá nên anh Tư nảy ra sáng kiến: Đặt khối thuốc nổ ở dệ đường, nối nụ xòe với đầu một đoạn le dài đặt nằm ngang đường…Chỉ cần xe xích địch cán qua lôi đoạn le dịch khỏi vị trí đó là mìn nổ ngay…Như thế là miễn làm sao bánh xe của địch lôi được đoạn cây que rác rưởi đó là được.

Cách đánh của anh Tư cũng đánh lật được 2 xe M 113 của địch, tránh được việc để chiến sĩ đào hố ngồi đợi xe địch đến giật dây cho mìn nổ như của một đơn vị bạn…rất nguy hiểm!

Khi xe đi đầu dính mìn, cả đoàn xe địch phải dừng lại. Vô phúc cho tên nào dẵm phải “dây cước câu cá cờ” thì sẽ “ăn” tiếp 3 - 4 quả mìn nữa. Bị mìn nổ liên hoàn, địch hoảng loạn sẽ chạy ngược về cứ.

Tổ tôi chọn điểm đặt mìn ở chỗ trống nhất và địch dễ nhìn thấy nhất nhằm tạo bất ngờ. Những nơi ấy, anh em chúng tôi phải nằm đào nên rất mất thời gian, rất vất, nhưng đổi lại là “chắc ăn”.

Đêm đêm, địch thường dùng xe M113 và xe DMC đi tuần. Khi chúng vừa đi qua xong, chúng tôi lại từ rãnh nước bò lên đào tiếp. Nghe ì ì tiếng xe ngược lại hoặc là thấy lấp loáng ánh đèn pha là lại phải lăn vội xuống mương…Nhanh thì chui vào hàm ếch, chậm thì nằm im…Đợi xe địch đi qua lại lên bới, đào và chôn lấp tiếp….

Cứ thế, chúng tôi lại đi đào hố và chôn mìn… Có lần, vừa lấp mìn xong, xe tuần tra của địch quay trở lại, thế là mìn nổ. Người hiếu kỳ thì dừng lại “xem sao”? Nhưng với chúng tôi thì chạy thật nhanh và trốn thật kỹ tránh ăn phải pháo và bọn địch truy sát.

Rất may cho chúng tôi cài đặt nhiều trận địa mìn, nhưng không có quả mìn nào bị xịt. Chỉ có điều, phải đợi đến 4-5 ngày sau, cơ sở mới báo kết quả, nhưng họ cũng không biết cụ thể số địch thương vong bao nhiêu? Ngay cả Đài phát thanh Sài Gòn cũng không đưa tin tức lính Ngụy chết trên đường 13!

Vũ Quang Đồng

(Còn nữa)



TAG:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: