Phóng sự - Ghi chép

Cuốn theo cuộc chiến

Thứ Ba, 05/10/2021

(Tiếp theo kỳ trước)

Ở miền Đông, có những chuyện rất lạ! Ai đã từng sống ở Bến Cát những năm 1968-1971 sẽ không thể quên lòng dân ở đây hướng về cách mạng thủy chung như thế nào!

Ở phân khu chúng tôi, nguồn hậu cần chủ yếu từ nhân dân! Dù bị địch o ép, kìm kẹp, “tát nước bắt cá” đến nghẹt thở, nhưng bằng rất nhiều cách, bà con vẫn đưa được số lượng lớn lương thực, muối ra rừng cho bộ đội! Đã có nhiều lính hậu cần hy sinh trên hai bờ sông Sài Gòn và Thị Tính, nhưng anh em hậu cần vẫn tìm cách “đột nhập” vào các làng, ấp mua từng lon gạo. Đây là lý do chúng tôi chỉ dành gạo nấu cháo cho thương binh, còn người khỏe thì “chấp nhận gian khó” ăn lá rừng, củ nần thay cơm.

Mặc dù bị địch đàn áp, khủng bố khốc liệt, nhưng ngay ở Bến Cát, người dân vẫn bí mật cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc men cho giải phóng. Nhiều du kích “2 mang”, sáng làm dân vệ, tối làm du kích là những “con thoi” tiếp tế cho người ở ngoài rừng…Bọn Ngụy vẫn nói đó là những người “ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản”…Đặc biệt, từ những hòm thư chết, chúng tôi nhận được nhiều tin tức quan trọng, nhờ đó, nhiều lần tránh được vây ráp và chống càn hiệu quả.

Ngoài các cơ sở bí mật ra, ở Bến Cát có một nhóm dân vệ rất hay để “quên” súng ống, đạn dược, gạo, muối… ở dệ các bờ ruộng, con đường. Ở Rạch Bắp, cũng có một nhóm thanh niên vũ trang thỉnh thoảng lại vứt súng, đạn, lựu đạn ở dệ đường rồi bỏ chạy “Vì gặp quân giải phóng” (thực ra chẳng gặp ai cả!).

Người dân Lai Khê cũng vậy, có gia đình theo đạo Thiên Chúa, di cư vào Nam năm 1954, nhưng vẫn bí mật chuyển ra rừng muối, gạo rang, thuốc pilisilin (gọi tắt là “bi”) và bông băng…

Ở thị xã Thủ Dầu Một, cũng có một số gia đình công giáo dân Bùi Chu - Phát Diệm “đi B 1954” nhưng lại “thân cộng” nuôi giấu quân giải phóng…

Tháng 5 năm 1970, tôi được cơ sở đưa vào thị xã Thủ Dầu Một ở trong 1 gia đình công giáo 2 ngày, 1 đêm. Nhà gần với nhà thờ thị xã. Gia đình có 5 người, bà chủ nhà tên gọi “cô Tư” (“cô” là gọi theo miền Bắc, là chị hoặc là em bố. Còn “Tư” là gọi theo thứ của miền Nam). Cô Tư đã gần 60 tuổi, có con trai làm cảnh sát, đã có vợ và 2 con gái nhỏ…Anh chàng cảnh sát này biết má theo Việt Cộng nhưng không nói gì…

Ở miền Nam không ít gia đình có người làm việc cho Ngụy, nhưng lại theo Việt Cộng…Có người sáng thì thao thao bất tuyệt “chống Cộng đến cùng”, nhưng tối lại dẫn quân giải phóng vào “diệt ác, phá kềm”.

2 năm (1969-1970) khó khăn chồng chất khó khăn, hiểm nguy chồng chất hiểm nguy, nhưng người dân miền Đông vẫn “chí cốt” với cách mạng. Họ tìm mọi cách để giúp đỡ, chở che quân giải phóng. Phải nói, những người làm công tác “địch vận” của ta giỏi thật! Nếu không có họ, chắc chúng tôi khó mà vào được các làng, ấp, nội thành an toàn…

Giữa năm 1971 ở Bến Cát, các cơ sở trong dân được củng cố lại! Ngay cả mấy đám “dân vệ” trong các làng, ấp, ban ngày tuần tra rất nghiêm, bắn súng đì đẹt cứ như là “đe nẹt” dân ghê lắm, nhưng đến đêm, chính họ lại cõng gạo, thực phẩm ra khỏi hàng rào cung cấp cho giải phóng. Năm 1971, có lần, chúng tôi còn nhận được thư, không phải thư của miền Bắc, mà là từ trong ấp gửi ra. Thư viết chỉ có câu: “Các anh giải phóng cần gì cứ nói, đừng đánh ấp chúng em!”…Nghĩ mà thương thương, tội tội…

Tất nhiên, thỉnh thoảng chúng tôi lại phải vào “kiểm tra” các ấp đó một lần để xem có phải là “khiêu khích” không. Đa số là không! Có ấp, sáng sáng, ấp trưởng và dân vệ lại dồn dân tập trung điểm danh “quát lác, hống hách” thật lực, rồi trực tiếp đến từng nhà kiểm tra thùng gạo, hũ muối trước sự chứng kiến của bọn bình định, thiên nga, phượng hoàng…Thế nhưng, chính những ấp trưởng, dân vệ đó lại mua gom gạo, muối cho Đoàn hậu cần 814 và họ còn dẫn đường cho Việt Cộng vào “diệt ác”…Cứ cù nhằng “nửa tối nửa sáng” như vậy mà địch không làm gì được.

Điều này giải thích tại sao tháng Tư năm 1975, quân ta đánh đến đâu, nhân dân có cờ giải phóng treo trước cửa nhà đến đấy…

Năm 1971, ở Củ Chi, không biết làm cách nào, mấy anh Hậu cần 814 còn móc được cả lương thực và thực phẩm của quân Ngụy (địch gọi là quân tiếp vụ). Chúng dùng cả xe DMC chở gạo, ngô, đậu xanh, muối và rất nhiều mặt hàng khác cho giải phóng. Những tay lính Ngụy áp tải hàng gặp các anh em giải phóng đi lấy hàng cứ nài đi, nài lại rằng: “Các anh nhớ mặt chúng em nheng! Nếu gặp thì đừng bắn!”.

Mấy lần gặp họ thành quen mặt, anh em chúng tôi dặn lại: “Nghe tiếng súng, chớ bắn lại. Gặp giải phóng phải giơ tay đầu hàng ngay…Phải gọi thật to: “Em đây, các anh đừng bắn!”. Mấy tay lính vâng vâng, dạ dạ rối rít! Nghĩ cũng buồn cười…

Sau ngày giải phóng, chúng tôi gặp anh em Đoàn đặc công 113 cũng được kể lại rằng: Vùng Biên Hòa - Đồng Nai, cũng có chuyện xe DMC của Ngụy chở hàng cho quân giải phóng, cũng có lính đi áp tải hàng và…chủ hàng thường là vợ các sĩ quan cao cấp của Ngụy...

Vũ Quang Đồng

(Còn nữa)



TAG:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: