Phóng sự - Ghi chép

Cuốn theo cuộc chiến

Thứ Sáu, 01/10/2021

(Tiếp theo kỳ trước)

…Sau những tháng vất vả cuối năm 1971, chúng tôi được phân khu cho nghỉ chuẩn bị đón Tết! Sau này, chúng tôi mới biết: Phân khu chuẩn bị cho Chiến dịch Nguyễn Huệ, còn chúng tôi là “ma” trên Lộ 13, nên cấp trên để chúng tôi nhàn rỗi một thời gian rồi tiếp tục lâm trận…

Giá như ở miền Bắc, được nghỉ, sẽ tranh thủ về quê với gia đình; có người yêu thì về động viên hoặc làm đám cưới để bố mẹ sớm có “con bế cháu bồng”… còn ở đây thì biết đi đâu? Xung quanh là đồn bốt, căn cứ của địch. Làng, ấp không bị tàn phá thì chỉ là vùng địch kiểm soát… Muốn vào “chơi Xuân” thì phải có du kích, cơ sở dẫn đường…Nhưng có dám vào không? Nếu có bạn bè, đồng đội, đồng hương ở các đơ vị bạn thì mỗi người mỗi căn cứ, không thể tùy tiện đến thăm… “Chiến tranh cài răng lược” là vậy! “nghỉ phép” cũng bằng không…cho nên gọi là “xả hơi” thì hợp lý hơn....

Được 2 ngày nghỉ tại chỗ, cấp trên ra lệnh chuyển căn cứ! Đơn vị phải di chuyển từ Bầu Đưng lên Suối Cạn (chắc thuộc địa bàn Dầu Tiếng hay Phú Riềng gì đó). Vì lệnh di chuyển đột xuất nên chúng tôi khăn gói gọn nhẹ theo giao liên đi mất 3 ngày, 2 đêm mới đến nơi. Chúng tôi dừng chân dưới một rừng le thấp, hầm hố có sẵn. Cạnh hầm là con suối gần cạn nước, dương xỉ và rau dớn mọc um tùm, có lẽ vì thế mới có tên là Suối Cạn.

Từ căn cứ, chúng tôi nhìn thấy rừng cao su, xa cũng khoảng hơn 1 km. Mùa khô không có mưa, nên công tác ngụy trang, xóa dấu vết lối đi cũng phải cẩn thận hơn! Anh giao liên dẫn anh Bẩy, anh Tư và tôi đến “binh trạm” cách chỗ chúng tôi ở khoảng gần 2 km để giới thiệu, làm quen rồi anh ta chia tay. Trước khi đi, anh ta dặn chúng tôi chú ý củi lửa, đừng để khói bốc lên và đặc biệt là đừng thả cái gì xuống suối, tránh biệt kích phát hiện!

Theo thói quen, anh em chúng tôi đi một vòng một lượt để xem xét địa hình, địa vật nhằm bố trí cảnh giới, phòng ngự. Chúng tôi phát hiện, cách chúng tôi ở hơi xa xa, có một đơn vị bộ đội chủ lực trú quân. Quần áo bộ đội Bắc Kỳ còn mới và có cả súng cối, DKZ, 12ly7…

Vì lâu rồi mới thấy bộ đội chủ lực, nên chúng tôi vào thẳng căn cứ, hỏi thăm và được dẫn đến một căn hầm để gặp chỉ huy. Rất nhiều người đeo xà cột, súng ngắn đang túm tụm trước một sa bàn rộng.

Liếc nhanh, chúng tôi biết ngay họ đắp “bản đồ” địa hình Bình Long và Phước Long. Con đường dài ngoằn ngoèo là Lộ 13 chạy từ Bến Cát lên biên giới Việt - Miên. Tiếp chúng tôi là một người đàn ông đã luống tuổi, cao, gầy, nước da sốt rét, chỉ có đôi mắt và nụ cười là hiền và thân thiện.

Sau khi có vài câu “xã giao”, anh Bẩy đã “thẳng thắn góp ý” với đơn vị là cần phải có người cảnh giới từ xa , các hoạt động như lấy cây, chặt củi và bếp núc không nên để phát ra những tiếng ồn! Người chỉ huy của đơn vị vui vẻ tiếp thu và chấn chỉnh ngay.

Ông xưng hô với chúng tôi bằng từ “đồng chí” - Từ này rất lâu rồi, chúng tôi không dùng tới! Khi biết chúng tôi từ Bến Cát lên, người chỉ huy đó hỏi chúng tôi rất cặn kẽ Lộ 13, căn cứ Lai Khê…Anh Bẩy cũng không ngần ngại mô tả tình hình khu vực và còn nói rất tỉ mỉ như đồn, bốt và quy luật hoạt động của địch ở Lai Khê và trên đường 13 cho ông chỉ huy nghe.

Cũng phải đến gần 2 tiếng đồng hồ chúng tôi được ngồi với bộ đội chủ lực. Không có khoảng cách mà ngược lại rất chân tình. Ra về, người chỉ huy đó còn tiễn chúng tôi đoạn đường dài…Bây giờ tiếp nhau như vậy, khi ra về chủ thường có quà cho là khác, còn khi ấy, chúng tôi chỉ xiết chặt tay nhau mà thôi…Lính chỉ có tình đồng đội thôi mà! Đây là những người lính công trường 7 - những người sẽ tham chiến chặn địch trên Lộ 13 trong Chiến dịch Nguyễn Huệ…

Ở căn cứ mới, thỉnh thoảng, chúng tôi thấy có một vài đoàn dân công hỏa tuyến gùi đạn, lương thực đi qua, có cả tiếng con gái “léo nhéo”…nhưng anh em chúng tôi không dám ra chào hỏi. Kinh nghiệm chiến trường cho chúng tôi nhiều bài học: Càng giấu mình được bao nhiêu, càng tốt bấy nhiêu! Khoe khoang sẽ là tự sát!

Ngay buổi chiều đến cứ mới, anh em chúng tôi được hậu cần phân khu gọi đi lấy gạo, muối, bột ngọt, dầu ăn, cá hộp…Anh em mang về cả một bộ nồi nấu cơm tập thể. Anh Bẩy cử Quang và Liêm làm anh nuôi. Hai tướng lấy ngay hầm của mình khoét bếp Hoàng Cầm…

Công nhận, anh Bẩy rất tinh, phát hiện ra Liêm là một đầu bếp giỏi! Bữa cơm đầu tiên (gạo trắng, hơi hôi một chút, nhưng không phải độn gì cả!) có rau dớn xào, canh lá chua và thịt lợn muối ngon tuyệt! Chả bù mấy hôm trước còn đem theo củ nần để ăn. Như ở Bầu Đưng còn có rau bướm, rau tàu bay nấu canh, ở đây thì không - thực ra là chúng tôi mới đến nên chưa có thời gian đi tìm kiếm rau rừng xung quanh…

Nhắc đến thức ăn, lại nhớ cá sông Sài Gòn, sông Thị Tính ướp muối cho vào thùng đạn đại liên rồi chôn xuống đất, vài tháng sau đào lên được món cá chua, chén với củ nần cũng ngon hết ý!

Hai ngày sau, hậu cần phân khu lại gọi chúng tôi lên cấp cho 5 kg thịt lợn muối và mỗi người 2 lon cá mòi Campuchia, nhưng anh em chúng tôi không ăn mà lấy ni lon gói thịt muối lại thật chặt để dành nhằm khi “cực chẳng đã” thì mới mở! Kinh nghiệm đầy mình rồi, không thể để “no dồn đói góp”! Đời lính chiến phải luôn nhớ câu “Mặn này nhớ nhạt ngày xưa” để mà tiết kiệm và lúc nào cũng phải “phòng thân”!

10 ngày nghỉ, được cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm…quá xa xỉ! Những thực phẩm này khi trở về Bầu Đưng sẽ rất có giá trị! Mùa khô miền Nam chỉ có nắng và gió. Lá rừng rụng úa đất, rất dễ bắt lửa. Ở bìa rừng cỏ tranh vươn ngập đầu. Chúng tôi ăn Tết 1972 trước 12 ngày, có thịt lợn muối, cá hộp và cơm dậy (cơm không độn gì cả), chỉ có cơm nếp Miên (Campuchia) không thơm nhưng rất dẻo, đủ để có hương vị Xuân…

Vùng căn cứ chúng tôi ở tương đối yên tĩnh. Tiếng đạn pháo nổ rất xa. Thỉnh thoảng mới có máy bay phản lực của địch vụt qua. Song, vì lúc nào cũng như “Chim sợ cành cong”, nên anh em chúng tôi bảo nhau: So với Củ Chi và Bến Cát thì ở đây nguy hiểm hơn! Nếu địch tập kích bằng máy bay thì rất khó chạy. Địch mà rải bom cháy (Napan) thì khó lòng trốn thoát! Rừng cao su trống quá, thông thống thế kia thì trốn chạy thế nào đây? Ở Bến Cát và Củ Chi suốt ngày đêm nghe bom, pháo nổ, máy bay gầm rít trên đầu, nhưng vẫn yên tâm hơn. Nói chung, ở đâu quen đó!... Đúng là lính, quen khổ rồi!

Hết phép, chúng tôi lại trở về Bầu Đưng. Trên lưng anh nào cũng cõng một bồng nặng lặc lè… Trong đó, toàn những của quý, đó là gạo, đạn và muối. Cồng kềnh nhất là các xạ thủ B40, anh nào cũng cố cõng 7-8 quả đạn. Nhẹ nhất là anh Bẩy, với đôi chân khập khiễng nhưng vẫn cố gùi 1 bồng kíp số 8 và dây cháy chậm…Vẫn anh giao liên đón chúng tôi hôm trước, nay lại dẫn chúng tôi về…Nhưng đường về có vẻ xa hơn, đi mất 4 ngày mới tới nhà…

Nghỉ ngơi được 2 ngày, chúng tôi lại tiếp tục chia nhau đi bám Lộ Lệ Xuân. 10 ngày chính Tết, địch không hành quân, nhưng trên đường 13, các loại xe cộ của dân đi lại hơi nhiều, chủ yếu là xuôi về Bến Cát - Thủ Dầu Một…

Nhìn những đoàn xe, người khăn gói, vội vã dắt nhau về xuôi, chúng tôi dự cảm như sẽ có một “điềm gở”. Khi họp đơn vị triển khai nhiệm vụ, chúng tôi hình dung năm 1972, Quốc lộ 13 sẽ trở thành con đường đẫm máu! ….

Vũ Quang Đồng

(Còn nữa)



TAG:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: