Phóng sự - Ghi chép

Chùa Hà Tiên – Đại cổ tự đất Vĩnh Yên

Thứ Hai, 09/12/2019

Thành phố Vĩnh Yên có nhiều ngôi cổ tự đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa. Trong đó, có 3 ngôi được xếp vào hàng Đại danh lam, hay còn gọi là Đại cổ tự - tức là chùa cổ có uy vọng lớn. Đó là chùa Tích (Ngũ Phúc tự) ở phường Tích Sơn, chùa Bầu ở làng Bầu (phường Liên Bảo) và chùa Hà (hay chùa Hà Tiên) ở xã Định Trung.

Tòa Tam Bảo của chùa Hà được xây dựng khang trang, đáp ứng nhu cầu tâm linh của các tăng ni, phật tử và quần chúng nhân dân

Theo các nhà nghiên cứu, có nhiều dấu hiệu cho thấy, cả 3 ngôi chùa trên đều được xây dựng từ thời Lý - Trần, tức là cách đây khoảng 600 đến 1.000 năm. Trong đó, với nhiều hiện vật và tư liệu còn lưu giữ được, có thể xác định chắc chắn chùa Tích và chùa Bầu được xây dựng từ thời Lý – Trần.

Riêng chùa Hà do trải qua nhiều lần trùng tu, xây dựng, mặt bằng đã bị san ủi làm biến dạng và chôn vùi mất nhiều di vật nên các nhà khoa học không đủ căn cứ khẳng định chính xác niên đại khởi dựng. Đến nay, chỉ còn tư liệu chứng minh cho lần trùng tu lớn vào năm 1703 (năm Chính Hòa thứ 24 đời vua Lê Hy Tông) ghi lại trên tấm bia Cây hương 4 mặt “Hà Tiên Thiên đài bi” tại chùa hiện nay. Vì vậy, từ lâu vẫn có nhiều tranh luận về thời điểm ra đời của ngôi Đại cổ tự này, trong đó có 2 luồng ý kiến chính là ra đời vào thời Lý – Trần và ra đời vào thời Lê mạt.

Vườn mộ tháp với 8 ngôi tháp cổ trong khuôn viên chùa Hà

Tuy nhiên, qua tham khảo ý kiến của phần lớn các nhà khoa học, các nhà khảo cổ học và nhà nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Việt Nam, giả thiết chùa Hà được xây dựng vào thời Lý – Trần là hợp lý hơn cả.

Thứ nhất, chùa khó có thể được xây dựng vào thời Lê mạt vì đây là thời điểm trùng tu lớn của ngôi chùa. Thực tế đã chứng minh, Phật giáo từng được coi là quốc giáo thời Lý và cả một phần lớn giai đoạn triều Trần, Lê. Với sự coi trọng như vậy, việc xây dựng hệ thống đền chùa thường được làm rất kiên cố bằng các nguyên vật liệu có độ bền cao. Nếu xây dựng vào thời Lê và cũng được trùng tu cùng niên đại thì nghe không được hợp lý về mặt khoa học.

Đặc biệt, căn cứ vào niên đại cùng các vật dụng, hoa văn và một số tiểu tiết của các ngôi chùa thời Lý – Trần trong vùng, chùa Hà có nhiều nét tương đồng. Vì vậy, việc nhận định cả 3 ngôi Đại cổ tự trên có cùng niên đại là phù hợp…

Theo nhiều tài liệu còn lưu giữ được, chùa Hà từng là một trong những nơi hoằng dương phật pháp nổi tiếng ở khu vực miền núi phía Bắc và dãy Tam Đảo xưa với nhiều công trình kiến trúc nguy nga, pháp khí, bảo vật quý hiếm. Kể từ sau lần trùng tu lớn vào năm 1703, chùa Hà thành một trung tâm tu tập lớn của Tăng Ni, nơi hoằng pháp cho đông đảo Phật tử trong vùng và phụ cận, có thời gian đã trở thành trung tâm đào tạo Phật giáo ở phía Bắc kinh thành Thăng Long, với vườn tháp còn nguyên vẹn 8 ngôi cổ mộ mang những đặc điểm của mộ tháp sư thời Hậu Lê và thời Nguyễn – đã minh chứng sự ổn định lâu dài qua nhiều thế hệ sư trụ trì và viên tịch của chùa Hà, đồng thời, khẳng định vị thế của chùa Hà trong hệ thống các ngôi chùa được phân bố khá đậm đặc trong vùng, là nguồn tư liệu quý để nguyên cứu tìm hiểu về giá trị kiến trúc nghệ thuật loại hình tháp mộ thời Hậu Lê ở Vĩnh Phúc và Việt Nam.

Tương truyền, vào thời Hùng Chiêu Vương, khi quốc gia gặp nạn ngoại xâm, bà Lăng Thị Tiêu từ vùng Tây Thiên dấy nghĩa chiêu binh đánh giặc, trên đường về Phong Châu bà đã nghỉ lại tại khu vực chùa Hà ngày nay, chiêu mộ thêm tráng đinh trong vùng để hội quân với Hùng Chiêu Vương ở Phong Châu – sau bà được tôn phong là “Quốc Mẫu Tây Thiên”. Vì vậy, sau này, nhân dân địa phương đã lập bài vị thờ Quốc Mẫu tại chùa, gọi là thờ “Đức Thánh Đại Vương”.

Tháng giêng năm 1961, sau khi về thăm HTX Nông nghiệp Bình Dương – huyện Vĩnh Tường, nơi có phong trào trồng cây điển hình của miền Bắc, Bác Hồ cũng đến thăm và nghỉ trưa tại chùa Hà, Bác xuống giếng Ngọc (giếng Hà) để rửa tay, Bác khen nước giếng chùa Hà vừa trong, vừa mát. Tưởng nhớ công ơn Bác đối với nhân dân các dân tộc trong tỉnh, địa phương đã dựng nhà lưu niệm Bác trong khuôn viên chùa.

Đặc biệt, hễ nhắc đến chùa Hà là nhiều người nghĩ ngay đến sự tích cầu mưa của nhà chùa. Nguyên do là ngày trước, có thời gian vùng đất này thường xuyên phải chịu cảnh hạn hán khiến đất đai cằn cỗi, cây cối tàn lụi. Vốn sinh sống dựa vào nông nghiệp, nhiều người dân lâm vào cảnh đói khát, phải bỏ làng đi tha hương cầu thực. Tận mắt chứng kiến kiếp nạn này, sư trụ trì chùa Hà khi ấy là Tịnh Huân đã cho lập đàn tràng cầu mưa.

Theo đó, sư Tịnh Huân đã nguyện tự thiêu để cầu mưa cho dân. Sau khi phát nguyện trước Tam Bảo và tế cáo trời đất, ngài đã tọa trong tư thế kiết già. Ngọn lửa thiêu đốt toàn thân nhưng hai bàn tay ngài vẫn còn nguyên hình dáng. Chuyện kể rằng, sư Tịnh Huân tự thiêu hôm 30/5 thì ngay ngày 1/6 hôm sau trời đổ mưa lớn, kéo dài 3 ngày liên tiếp.

Người dân địa phương qua các thế hệ truyền tai nhau rằng từ đó trở đi, cứ đến ngày giỗ của sư Tịnh Huân, trời thường đổ mưa. Dân trong vùng nhờ đó tránh được nạn hạn hán, mùa màng tươi tốt, đời sống no ấm quanh năm. Ghi nhận công ơn của bậc chân tu, người dân đã dựng ngôi tháp bảo ba tầng để lưu trữ tro cốt của ngài. Ngôi tháp này đến thời vua Quang Trung được suy tôn là Bồ tát.

Hiện tại, trong vườn mộ tháp của chùa Hà có tất thảy tới 8 ngôi. Phần lớn những bảo tháp này hiện vẫn còn vẹn nguyên với 3 tầng chính. Tháp cao khoảng 3m, có 4 mặt, được dựng bằng gạch nung đỏ kết dính bằng một loại nguyên liệu tổng hợp từ nhựa cây kết hợp với đất sét nhão.

Tuy nhiên, dù tất cả 8 ngôi tháp đều lưu giữ báu thân của các vị cao tăng nhưng riêng tháp của ngài Tịnh Huân lại có chỗ khác biệt là phần lớn ngôi tháp được bao phủ bởi một cây sanh. Cây sanh này có rất nhiều rễ, bao trùm gần trọn 3 mặt phụ của bảo tháp. Trải qua nhiều thế kỷ cùng bao nắng dãi mưa dầm, cây sanh vẫn hiên ngang sừng sững như vậy…

Khoảng giữa thế kỷ XX, vì nhiều lí do khác nhau, chùa Hà bị hủy hoại gần như hoàn toàn. Thế nhưng, với uy vọng lớn lao của mình, chùa Hà không bị tuyệt diệt như số phận bi thảm của nhiều ngôi chùa lớn nhỏ khác trong một giai đoạn nhất thời của đất nước. Thay vào đó, nhân dân trong vùng đã bí mật phân tán, cất giấu nhiều tài liệu phật học, pháp bảo, pháp khí và các vật dụng quý hiếm khác liên quan đến nhà chùa để chờ ngày phật pháp quang lâm.

Nhờ vậy, có thể nói, dù có lúc chùa Hà gặp cảnh tai ương nhưng phật pháp không lúc nào ngừng luân chuyển trong tâm thức của người dân trong vùng và Phật tử gần xa.

Ngày nay, chùa Hà được cải tạo, phục dựng và xây mới to đẹp, khang trang hơn xưa, đồng thời, trở thành một điểm đến tâm linh nhiều ý nghĩa với đông đảo tăng ni, phật tử và nhân dân trong vùng.

Bài, ảnh Long Dương



TAG:
Tin tức Mới:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: