Phóng sự - Ghi chép

Nhiều bất cập trong xử lý nước thải

Thứ Năm, 23/05/2019

Quá trình hình thành và phát triển các khu đô thị, các dự án công nghiệp, áp lực từ sự gia tăng dân số… đã gây ra nhiều tác động đến môi trường tại các địa phương, đặc biệt là môi trường nước. Thực trạng trên đòi hỏi tỉnh ta cần thực hiện đồng bộ các giải pháp kiểm soát xả thải cũng như xử lý nước thải, từng bước giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi trường nước trên địa bàn.

Môi trường nước tại nhiều khu vực nông thôn bị ô nhiễm nặng. (Ảnh chụp tại xã Quang Sơn, huyện Lập Thạch). Ảnh Lê Mơ

Tỉnh ta có nguồn tài nguyên nước mặt và nước ngầm khá phong phú. Trên địa bàn tỉnh có 4 con sông lớn chảy qua (sông Hồng, sông Lô, sông Cà Lồ, sông Phó Đáy) và hơn 400 ao, hồ lớn nhỏ. Đây là các thủy vực quan trọng cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất, tuy nhiên, cũng là nơi thu nhận nước thải. Theo kết quả quan trắc hiện trạng chất lượng môi trường nước tại hệ thống sông, hồ, đầm trên địa bàn tỉnh năm 2018 cho thấy, hầu hết chất lượng nước đã bị ô nhiễm bởi các chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng, dầu mỡ khoáng… Bên cạnh đó, chất lượng nguồn nước ngầm tại một số khu vực trên địa bàn tỉnh cũng có dấu hiệu bị ô nhiễm với các chỉ tiêu vượt chuẩn cho phép.

Hệ thống xử lý nước thải tập trung tại Khu công nghiệp Khai Quang (Vĩnh Yên). Ảnh Nguyễn Lượng

Sự gia tăng của nước thải sinh hoạt trong khi hạ tầng thoát nước, thu gom, xử lý nước thải tại các địa phương chưa được đầu tư đồng bộ là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nước tại tỉnh ta hiện nay. Theo thống kê, tổng lượng nước thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn tỉnh khoảng 80.100m3/ngày, đêm, trong đó,khu vực đô thị khoảng 36.900m3/ngày, đêm; khu vực nông thôn khoảng 43.200m3/ngày, đêm. Tại khu vực đô thị, hiện mới chỉ có 1 trạm xử lý nước thải tập trung ở thành phố Vĩnh Yên với công suất 5.000m3/ngày, đêm. Với công suất như vậy, trạm chỉ chỉ xử lý được 50% lượng nước thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên (gồm các phường: Khai Quang, Đống Đa, Ngô Quyền, Liên Bảo). Các địa phương còn lại của thành phố Vĩnh Yên và những khu vực đô thị khác trên địa bàn tỉnh vẫn chưa có hệ thống thu gom, xử lý nước thải.

Đối với khu vực nông thôn, các khu dân cư chưa có hệ thống tiếp nhận nước thải tập trung, nước thải chủ yếu được thu vào cống, rãnh, sau đó được xả ra hệ thống kênh, mương nội đồng, ao, hồ trong khu dân cư. Trong khi đó, hệ thống cống, rãnh tiêu thoát nước thải ở khu vực nông thôn đa phần được xây dựng từ lâu, thiếu đồng bộ, chưa được duy tu, cải tạo, nạo vét thường xuyên nên gây ra tình trạng ứ đọng cục bộ. Ngoài ra, khu vực này còn phát sinh một lượng lớn nước thải từ hoạt động chăn nuôi (hơn 16.000m3/ngày, đêm).

Nước thải từ chăn nuôi có hàm lượng chất hữu cơ, amoni, coliform… rất cao, khi thải ra môi trường mới chỉ được xử lý bằng phương pháp thủ công hoặc không xử lý, là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nước tại khu vực nông thôn. Bên cạnh đó, việc lạm dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp cũng là mối nguy hại lớn với môi trường nước hiện nay. Các chất độc hại có trong thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học một phần ngấm xuống đất làm ảnh hưởng đến các tầng nước ngầm, một phần theo dòng nước chảy qua hệ thống kênh mương nội đồng, xả ra hệ thống sông, suối, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao…

Trong sản xuất công nghiệp, những năm gần đây, hạ tầng thu gom, xử lý nước thải tại các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn tỉnh đang từng bước được hoàn thiện. Hiện,trên địa bàn tỉnh có 9 KCN đang hoạt động, trong đó, có 6 KCN đã lắp đặt và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung, lắp đặt trạm quan trắc nước thải tự động với công suất khoảng 18.800m3/ngày, đêm, gồm: KCN Kim Hoa, KCN Khai Quang, KCN Bình Xuyên, KCN Bình Xuyên II, KCN Bá Thiện và KCN Bá Thiện II. Ngoài ra, KCN Thăng Long Vĩnh Phúc đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung và trạm quan trắc nước thải tự động, hiện đang trong quá trình lựa chọn nhà đầu tư để quản lý, vận hành hệ thống; KCN Tam Dương và KCN Phúc Yên chưa xây dựng hệ thống nước thải tập trung do mỗi KCN mới chỉ có 1 nhà máy đang hoạt động; các nhà máy này đã đầu tư hệ thống thu gom và xử lý nước thải theo quy định. Tỷ lệ đấu nối hệ thống xử lý nước thải của các dự án sản xuất, kinh doanh trong các KCN đạt hơn 90%.

Tuy nhiên, tại các cụm công nghiệp (CCN), vấn đề xử lý nước thải vẫn còn nhiều nan giải, hiện, mới chỉ có 2/11 CCN (CCN Tề Lỗ và CCN Yên Đồng) đã được đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung, nhưng, hiệu quả hoạt động của các trạm xử lý nước thải này chưa cao, hoạt động không thường xuyên. Đối với các CCN khác, nước thải từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở sản xuất vẫn xả trực tiếp ra môi trường. Bên cạnh những cơ sở sản xuất tại các KCN và CCN, trên địa bàn tỉnh còn khoảng 600 cơ sở sản xuất bên ngoài với lượng nước thải phát sinh khoảng 1.000m3/ngày, đêm và 77 làng nghề với lượng nước thải phát sinh khoảng 20.300m3/ngày, đêm. Phần lớn nước thải từ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại các cơ sở bên ngoài KCN và các làng nghề đang được thải trực tiếp ra môi trường, không qua xử lý.

Trước thực trạng trên, đòi hỏi tỉnh cần tiếp tục tăng cường đầu tư xây dựng hạ tầng thoát nước, thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt, nước thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp. Đồng thời, nâng cao công tác kiểm soát xả thải; tăng cường thanh, kiểm tra và xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ môi trường nước nói riêng; tăng cường xã hội hóa, huy động sự tham gia của các tổ chức, đoàn thể, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và nhân dân trong công tác vệ sinh môi trường, nạo vét, khơi thông cống rãnh thoát nước, xử lý ô nhiễm môi trường tại các đầm, hồ…

Lê Mơ



TAG:
Tin tức Mới:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: