Phóng sự - Ghi chép

DỒN THỬA ĐỔI RUỘNG - CUỘC CÁCH MẠNG TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở VĨNH PHÚC

Thứ Hai, 31/12/2018

Vĩnh Phúc được biết đến là địa phương có bước đột phá về cơ chế khoán hộ và đưa vụ Đông thành vụ sản xuất chính trong năm, góp phần đưa sản xuất nông nghiệp địa phương và cả nước vượt qua khó khăn, gặt hái được những mùa vàng. Tuy nhiên, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, nhận thấy những bất cập trong cơ chế giao ruộng đất, phát huy truyền thống "dám nghĩ dám làm", không ít lần, Vĩnh Phúc đã thực hiện dồn ghép ruộng đất, nhưng kết quả chưa đạt được như mong đợi. Chỉ đến khi, xác định việc dồn ghép ruộng đất như một cuộc cách mạng trong nông nghiệp, với một quyết tâm lớn từ cấp ủy, chính quyền, sự đồng thuận cao từ nhân dân, mô hình điểm về dồn ghép ruộng đất (nay gọi là dồn thửa đổi ruộng) mới thành công, mở ra một triển vọng mới cho ngành nông nghiệp.

Cán bộ Tiểu ban DTĐR thôn Đông, xã Phú Đa (Vĩnh Tường) tuyên truyền tại thực địa về chương trình DTĐR. Ảnh Trường Khanh

KỲ I: CÓ Ý TƯỞNG SỚM... NHƯNG THÀNH CÔNG KHÔNG DỄ

Sớm nhận biết việc dồn thửa đổi ruộng (DTĐR) sẽ đem lại lợi ích to lớn cho việc tổ chức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, đem lại cơ hội làm giàu cho nông dân, vì vậy, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã có chủ trương, nghị quyết chuyên đề để thực hiện. Tuy nhiên, để làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm của người nông dân vốn đã tồn tại bao đời không phải một sớm, một chiều. Mặc dù trong nhiều năm trước đây đã có sự nỗ lực, cố gắng, nhưng việc DTĐR trên địa bàn tỉnh chưa đem lại thành công.

Cán bộ địa chính xã khẩn trương tiến hành kiểm tra thực tế các thửa ruộng sau khi nắm bắt chủ trương mới. Ảnh Chu Kiều

Không thể sản xuất lớn từ những thửa ruộng manh mún

Những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX, tại các HTX nông nghiệp trên địa bàn Vĩnh Phúc, nạn dong công, phóng điểm, làm ăn gian dối đã khiến sản xuất nông nghiệp của tỉnh rơi vào tình trạng trì trệ. Do số lương thực được chia theo công điểm không đủ để người nông dân nuôi sống gia đình, không ít người phải tập trung công sức vào mảnh đất 5% (tức là lô đất thuộc kinh tế phụ, dành cho xã viên trồng rau để ăn và chăn nuôi trong gia đình) để thâm canh và quay vòng triệt để, trong khi ruộng HTX thì "cha chung không ai khóc"...

Trước thực trạng ấy, tháng 9 năm 1966, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc mà đứng đầu là cố Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc đã thông qua một bản nghị quyết lịch sử: Nghị quyết 68-TU, về “Một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong HTX hiện nay". Đi vào cuộc sống như “nắng hạn gặp mưa rào”, chỉ sau một- hai vụ khoán, nhờ đi đúng quy luật và hợp lòng dân, Nghị quyết 68 (còn được gọi là Khoán hộ) đã làm cho sản xuất nông nghiệp của tỉnh chuyển biến đến không ngờ. Lúa tốt bời bời, thóc đầy bồ, nông dân phấn khởi.

 

Phát huy truyền thống sáng tạo, dám nghĩ dám làm, trong phát triển nông nghiệp, Vĩnh Phúc luôn có tư duy đột phá. Những năm 80 của thế kỷ trước, Vĩnh Phúc đã được cả nước biết đến nhờ việc nhân rộng thành công mô hình trồng cây ngô Đông trên nền đất ướt, đưa tỉnh dẫn đầu miền Bắc về sản xuất 3 vụ ổn định trong năm. Sau khi tái lập tỉnh (năm 1997), Vĩnh Phúc cũng là tỉnh đầu tiên trong cả nước thực hiện chính sách cấp đất dịch vụ cho người nông dân khi thu hồi đất nông nghiệp để thực hiện dự án phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời là tỉnh tiên phong trong việc giảm đóng góp, tăng đầu tư, phát triển nông nghiệp, nâng cao đời sống nông dân. Nghị quyết 03 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về “Phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân” được ban hành vào cuối năm 2006, thực hiện có hiệu quả, làm cơ sở để T.Ư nghiên cứu, ban hành Nghị quyết về tam nông.

Tuy nhiên, việc giao đất ổn định cho các hộ tại Vĩnh Phúc nói riêng và cả nước nói chung dẫn đến tình trạng đất manh mún, phân tán nhỏ lẻ. Đồng ruộng không được quy hoạch lại, cơ cấu cây trồng không được bố trí một cách hợp lý. Tại không ít địa phương, một hộ gia đình được giao nhiều thửa ruộng ở nhiều xứ đồng khác nhau. Nhớ lại khoảng thời gian ấy, ông Nguyễn Đình Đá, nguyên Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Vĩnh Phúc chia sẻ: “Từ chỗ đất nông nghiệp là của chung, việc băm nhỏ, chia đều cho người dân đã là thành công rất lớn, được coi là một bước tiến vượt bậc của ngành Nông nghiệp. Tuy nhiên, đi liền với đó là những hạn chế xuất hiện bởi tư tưởng bình quân như cách chia thịt lợn, mỗi phần đều có mỡ, nạc đủ đầy, ngay cả nước xuýt cũng phải được chia đều, múc bên trên, bên dưới, để có cả nước trong, nước béo. Tình trạng mỗi hộ sở hữu nhiều mảnh, có xa, có gần, có tốt, có xấu…, dẫn đến chi phí đầu tư cho sản xuất tăng cao, hiệu quả kinh tế thấp.

Nhất thiết phải dồn ghép ruộng đất

Xác định rõ việc DTĐR là xu thế tất yếu phù hợp với yêu cầu cơ giới hóa, tự động hóa trong sản xuất nông nghiệp theo chuỗi, quy mô lớn, từ trước khi tách tỉnh, tỉnh Vĩnh Phú (cũ) đã tiến hành công việc dồn ghép ruộng đất ở một số địa phương. Có thể kể đến quá trình thực hiện tại các xã Vĩnh Thịnh, Ngũ Kiên (huyện Vĩnh Tường) được tiến hành sau khi Nghị định 64/CP ra đời năm 1993, hay quyết tâm của huyện Yên Lạc trong dồn ghép ruộng đất năm 2005… Tuy nhiên, tình trạng manh mún trên những cánh đồng vẫn tồn tại. Mỗi hộ được giao nhiều thửa ruộng ở nhiều xứ đồng khác nhau, diện tích mỗi thửa nhỏ (trung bình không quá 300 mét vuông; trung bình một hộ có từ 8- 10 thửa), cá biệt có hộ có tới trên 20 thửa, diện tích thửa nhỏ nhất chỉ vài chục mét vuông; có thửa bề rộng không đến 1 m, kéo dài vài chục thậm chí hàng trăm mét.

Nhận định về nguyên nhân thất bại của những lần dồn ghép ruộng đất trước đây, nguyên Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Nguyễn Đình Đá cho rằng: Chuyển đổi, dồn ghép ruộng đất là một công việc phức tạp, liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nông dân, mà nhiều cán bộ cơ sở còn ngại khó khăn, gian khổ, sợ va chạm, hoặc ảnh hưởng đến lợi ích gia đình, bản thân, dẫn đến việc tổ chức triển khai không đầy đủ… thì tiến độ và kết quả không đạt được như mong muốn là điều dễ hiểu. Còn việc một số địa phương lúng túng, xây dựng phương án thực hiện chưa đồng bộ, chưa đúng với quy trình; kế hoạch thực hiện chưa cụ thể, chưa sát với thực tế chỉ là do chưa có kinh nghiệm. Quan trọng hơn, việc dồn ghép ruộng đất tại các địa phương lúc đó mới chỉ mang tính tự phát; chưa được quan tâm đúng mức và không có kinh phí hoạt động nên khó để tạo nên bước đột phá.

Trực tiếp thực hiện công tác dồn ghép ruộng đất, trong vai trò Chủ nhiệm HTX nông nghiệp xã Ngũ Kiên năm 1996, ông Nguyễn Văn Minh, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Ngũ Kiên (huyện Vĩnh Tường) chia sẻ: Mục đích của dồn ghép ruộng đất trước đây chỉ nhằm mục đích giảm số thửa/mỗi hộ và xóa bỏ những thửa có diện tích dưới 240 m2 để người dân thuận lợi trong canh tác. Bởi vậy, dù đã thực hiện dồn ghép mấy lần mà vẫn phổ biến tình trạng mỗi hộ gia đình còn nhiều thửa ruộng ở nhiều vùng khác nhau; dẫn đến không quy hoạch được vùng sản xuất chuyên canh, hệ thống tưới tiêu, giao thông nội đồng… và đương nhiên không thể đưa cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp. Cũng theo ông Minh, nguyên nhân dẫn đến tồn tại trên là do những lần thực hiện dồn ghép ruộng đất trước đây chưa tính hết về nhu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa. Quá trình thực hiện chủ yếu là tuyên truyền, vận động, không có kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.

Là đơn vị được Vĩnh Phúc chọn làm thí điểm công tác DTĐR năm 2017, Phó Bí thư Thường trực huyện ủy Vĩnh Tường Lỗ Tất Chánh cho biết: Xác định rõ những hạn chế, bất cập từ dồn ghép ruộng đất trước đây, huyện Vĩnh Tường nói riêng và tỉnh Vĩnh Phúc nói chung rất thận trọng, nhưng cũng rất quyết tâm trong thực hiện DTĐR theo Chỉ thị 11 của BTV Tỉnh ủy với mục tiêu: Hiện đại hóa nông nghiệp- sức máy làm thay sức người; nhạy bén, mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, hướng đến nền nông nghiệp bền vững. Và đích đến cuối cùng là nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác.

 

HC-TV

 



TAG:
Tin tức Mới:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: