Kinh Tế

Lối đi nào cho làng nghề truyền thống Khả Do?

Thứ Sáu, 26/11/2021

Làng Khả Do, xã Nam Viêm (nay là phường Nam Viêm, thành phố Phúc Yên) nổi tiếng với nghề làm tương từ lâu đời. Vậy mà nay, theo vòng xoay của cơ chế thị trường, làng nghề tương truyền thống chỉ còn khoảng 8 - 10% số hộ còn lưu giữ nghề. Việc tìm đầu ra cho sản phẩm đã khó, việc duy trì nghề truyền thống tại đây lại càng khó khăn hơn và đang đứng trước nguy cơ bị mai một.

Dù đã được nhiều người biết đến nhưng sản phẩm tương của làng nghề tương tuyền thống Khả Do vẫn chưa xây dựng được quy trình sản xuất thống nhất, có đầu ra ổn định và tương xứng với tiềm năng

Theo các cụ cao niên trong làng kể lại, làng nghề truyền thống tương Khả Do vào thời phong kiến được coi là một thành phẩm trong cung đình, phát triển nhất vào đời Vua Lê Hiển Tông, thời Hậu Lê nhờ vị ngon và những bí quyết về kỹ thuật trong quá trình sản xuất, bảo quản, sử dụng. Ngày đó, 100% người dân làng Khả Do dùng tương làm nước chấm chính trong các bữa ăn, 90% số hộ biết làm tương.

Để người dân an tâm gắn bó với nghề, phát huy những giá trị truyền thống, Đảng ủy, HĐND, UBND phường Nam Viêm đã có chủ trương khôi phục làng nghề tương truyền thống và giao trách nhiệm cho Hội LHPN phường xây dựng, thời tổ chức thực hiện Đề án Khôi phục và phát triển làng nghề tương Khả Do; thành lập Tổ hợp tác làm tương Khả Do để thu hút các chị em đam mê giữ nghề.

Tháng 8/2017, Tương Khả Do đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) cấp lô gô cho sản phẩm. Tuy nhiên, các hộ sản xuất tương tại làng Khả Do chủ yếu phát triển theo hướng nhỏ lẻ, tự phát, không có sự liên kết... nên nghề sản xuất tương truyền thống nơi đây đang đứng trước nguy cơ bị mai một.

Tổ dân phố Tân Minh, nơi có 40 thành viên trong Tổ hợp tác làm tương Khả Do được biết, sản lượng xuất bán ra thị trường của mỗi thành viên trong Tổ từ 3.000 – 5.000 lít/năm, với giá bán từ 30 – 35 nghìn đồng/lít.

Chia sẻ về bí quyết làm tương truyền thống Khả Do, bà Nguyễn Thị Lương, thành viên Tổ hợp tác cho biết: Để làm tương ngon, người làm cần phải chọn tháng có nhiệt độ ngoài trời cao. Bởi thời gian này, màu tương sẽ nhanh vàng, nhanh ngấu và sánh hơn. Đặc biệt, muốn có tương ngon thì phải ủ trong chĩnh sành, để càng lâu tương càng ngon, đến khi nước tương đặc sệt, có màu vàng ươm là khi ấy tương đã “chín”.

Khi được hỏi về ý định phát triển nghề làm tương truyền thống với quy mô lớn hơn, thị trường tiêu thụ rộng hơn, bà Lương cũng bày tỏ những khó khăn: Hiện nay, mỗi lít tương có giá bán từ 30 - 35 nghìn đồng, người làm tương chủ yếu lấy công làm lãi; nếu đầu tư cả nhãn mác, bao bì, in hạn sử dụng... thì sản phẩm rất khó tiêu thụ trong thôn, xóm và khu vực nông thôn.

Với kinh nghiệm 40 năm sản xuất tương truyền thống, mỗi năm cơ sở của gia đình bà Đào Thị Mướp cung ứng ra thị trường khoảng 7.000 lít tương, chủ yếu xuất bán cho các nhà hàng, cơ sở dịch vụ tại thành phố Phúc Yên.

Chia sẻ về việc mở rộng thị tường cho sản phẩm tương truyền thống, bà Mướp cho hay: “Đã nhiều lần tôi được khách hàng trong và ngoài tỉnh đến "ngỏ ý" đặt hàng để đưa sản phẩm vào siêu thị, hệ thống cửa hàng thực phẩm sạch và xuất bán ra nước ngoài nhưng do tuổi cao, sức yếu, lại ít vốn, chỉ có mình tôi tranh thủ lúc nông nhàn làm tương bán cho những khách hàng quen nên không thể đáp ứng được sản lượng lớn nếu ký kết hợp đồng cung ứng”.

Khi được hỏi nguyên nhân vì sao các hộ dân tại đây, nhất là các thành viên trong Tổ hợp tác không cùng nhau xây dựng HTX hoặc mô hình kinh doanh tập thể, phần lớn các thành viên trong Tổ đều cho rằng: Rất khó tìm được người dám “đứng mũi chịu sào” để sản phẩm tương truyền thống có cơ hội vươn xa hơn. Đây cũng là nguyên nhân chính khiến làng nghề truyền thống tương Khả Do vốn sẵn lợi thế nhưng lại chưa thể phát huy được nội lực và đứng trước nguy cơ bị mai một.

Theo vòng xoay của cơ chế thị trường, sản phẩm tương Khả Do ngày nay phải cạnh tranh với nhiều loại gia vị thành phẩm như các loại nước mắm, xì dầu, các loại nước xốt... tràn lan trên thị trường.

Trong khi đó, các nhà hàng lớn trên địa bàn tỉnh chỉ sử dụng tương theo mùa. Vì lẽ đó, các hộ làm nghề phần lớn đều coi đây là nghề đem lại thu nhập phụ nên quy mô sản xuất nhỏ, manh mún, chưa áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất. Trong khi đầu ra cho sản phẩm không ổn định, thị trường tiêu thụ tương Khả Do chủ yếu tại thành phố Phúc Yên.

Chia sẻ về mong muốn duy trì, phát triển làng nghề tương truyền thống, ông Nguyễn Văn Huấn, Phó Chủ tịch UBND phường Nam Viêm cho biết: Vừa qua, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 3003 về công nhận danh hiệu “Nghề truyền thống Vĩnh Phúc”, trong đó có nghề làm tương Khả Do.

Với mục tiêu khôi phục, bảo tồn và phát triển làng nghề, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho lao động tại địa phương, chính quyền địa phương sẽ tập trung vận động, tuyên truyền sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân trong xã hiểu về tầm quan trọng của việc khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống tương Khả Do.

Thành lập Hợp tác xã làng nghề Tương Khả Do; quy hoạch địa điểm xây dựng trụ sở HTX làng nghề. Thành lập Ban Kiểm soát giám sát về chất lượng sản phẩm trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ.

Quy hoạch vùng sản xuất nguyên liệu với diện tích là 20 ha; vận động nhân dân tập trung gieo trồng cây ngô, đỗ đảm bảo nguyên liệu cho sản xuất hàng hóa. Khuyến khích những hộ, cơ sở sản xuất tích cực đổi mới công nghệ sản xuất phù hợp với sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường…

Bài, ảnh: Ngọc Lan



TAG:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: