Kinh Tế

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong lâm nghiệp

Thứ Năm, 26/08/2021

Góp phần nâng cao giá trị rừng, sử dụng hiệu quả tài nguyên rừng, thời gian qua, cùng với đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng, ngành lâm nghiệp không ngừng nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) trong việc nhân tạo giống lâm nghiệp; xây dựng các mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn, chất lượng; chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng trồng kinh doanh gỗ lớn.

Chi cục Kiểm lâm kiểm tra mô hình trồng khảo nghiệm ứng dụng KHCN đối với cây keo lai BV10

Vĩnh Phúc hiện có trên 33.400 ha rừng và đất quy hoạch cho lâm nghiệp, chiếm 27,1% tổng diện tích tự nhiên trên toàn tỉnh, trong đó rừng đặc dụng gần 15.800 ha, rừng phòng hộ trên 4.100 ha, còn lại rừng sản xuất.

Giai đoạn 2016-2020, công tác sử dụng và phát triển rừng luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở quan tâm, chỉ đạo nghiên cứu, ứng dụng KHCN vào các lĩnh vực giống cây lâm nghiệp; trồng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ với bảo tồn nguồn gen các loại cây quý hiếm, gắn với phát triển kinh tế và du lịch sinh thái.

Hỗ trợ đầu tư 4 dự án xây dựng vườn ươm phát triển sản xuất giống cây lâm nghiệp chất lượng cao, nâng công suất sản xuất giống cây lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh và cung cấp cho thị trường hằng năm trên 2 triệu cây giống chất lượng cao các loại như thông caribê, keo tai tượng giống nhập Úc, bạch đàn mô dòng Urô, PN và một số giống cây bản địa có giá trị kinh tế cao khác.

Hiện, toàn tỉnh có 60 vườn ươm cây giống lâm nghiệp, trong đó có 5 đơn vị SXKD có quy mô lớn, còn lại là các vườn ươm nhỏ lẻ của các hộ gia đình.

Trung bình 1 năm, sản xuất trên 2,5 triệu cây giống các loại, đáp ứng nhu cầu trồng rừng trong và ngoài tỉnh.

Đồng thời, triển khai ứng dụng KHKT vào trồng thử nghiệm 22 mô hình cây: Keo lai mô BV10, BV16 và BV33; 100 ha cây dược liệu dưới tán rừng và trên đất lâm nghiệp như: Cát Sâm, Ba kích, Khôi nhung, Kim ngân hoa, Trà hoa vàng, Hương bài…, góp phần đưa sản lượng khai thác gỗ rừng trồng đạt gần 200 nghìn m3 và hơn 300 nghìn ster củi; giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân đạt trên 100 tỷ đồng/năm (so sánh giá năm 2010) và tăng trưởng bình quân đạt gần 4%.

Là 1 trong những hộ được Chi cục Kiểm lâm hỗ trợ áp dụng các tiến bộ KHKT vào trồng khảo nghiệm cây keo lai mô BV10 thay thế cây trồng cũ, ông Phạm Anh Tuấn, xã Đồng Quế, huyện Sông Lô cho biết:

So với những cây trồng trước đây, keo lai mô BV 10 có nhiều ưu điểm vượt trội như: Thời gian sinh trưởng nhanh, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, năng suất cao. Mô hình khảo nghiệm không chỉ thay đổi phương thức canh tác truyền thống mà việc áp dụng tiến bộ KHCN vào sản xuất lâm nghiệp còn giúp bà con cắt giảm chi phí, công lao động, số lần khai thác, góp phần chống xói mòn, rửa trôi đất, bảo vệ môi trường sinh thái.

Cùng với đó, ngành lâm nghiệp đã ứng dụng phần mềm quản lý chuyên dùng giúp công tác thống kê, kiểm kê theo dõi diễn biến rừng được thường xuyên, cập nhật kịp thời các biến động về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Nhờ đó, độ che phủ rừng tăng từ 18,7 % (năm 2006) lên trên 24% (năm 2019) và đạt 25% vào năm 2020; thường xuyên rà soát trên 9 nghìn ha rừng (68 trọng điểm) có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao tại các huyện, thành phố: Phúc Yên, Tam Đảo, Bình Xuyên, Lập Thạch và Sông Lô.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thì giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích đất lâm nghiệp còn thấp, đời sống của người dân làm rừng còn nhiều khó khăn. Cùng với đó, đất rừng sản xuất giao cho hộ gia đình nhỏ lẻ, manh mún (bình quân dưới 1 ha/hộ) nên chưa thu hút được đông đảo các chủ rừng đầu tư thâm canh, đưa tiến bộ KHKT vào sản xuất lâm nghiệp với quy mô lớn còn hạn chế.

Để quản lý, sử dụng và phát triển rừng một cách bền vững, góp phần giảm thiểu những tác động tiêu cực do biến đổi khí hậu gây ra, thời gian tới, ngành lâm nghiệp sẽ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn các chủ rừng đẩy mạnh dụng KHCN, áp dụng các kết quả nghiên cứu KHCN để nhân rộng các mô hình ứng dụng công nghệ cao đem lại hiệu quả vào sản xuất lâm nghiệp.

Đồng thời, đầu tư trồng rừng thâm canh, trồng và chuyển hóa rừng cây gỗ nhỏ sang cây gỗ lớn, luân canh cây trồng đối với rừng sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng rừng cũng như nâng cao thu nhập, ổn định đời sống của lao động nghề rừng.

Đẩy mạnh thu hút các doanh nghiệp có tiềm lực đầu tư vào lâm nghiệp, tăng cường liên kết chặt chẽ giữa nhà máy chế biến với các hộ gia đình, doanh nghiệp theo chuỗi hành trình sản phẩm từ khâu tạo nguyên liệu tới khai thác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

Bài, ảnh: Hồng Tính

TAG:
Tin tức Mới:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: