Kinh Tế

Giải bài toán phát triển nông nghiệp bền vững

Thứ Năm, 14/03/2019

Kỳ 2: Cần những giải pháp đồng bộ

Mặc dù cơ cấu kinh tế của Vĩnh Phúc đã đạt tiêu chí của một tỉnh công nghiệp, song, dù chiếm tỷ trọng ngày càng nhỏ, nhưng vai trò của sản xuất nông nghiệp là đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm và an sinh xã hội không bao giờ thay đổi! Vì vậy, nông nghiệp được xác định: Không những luôn giữ vị trí là trụ đỡ của nền kinh tế, mà còn giữ vai trò quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội của tỉnh và là vùng đệm giữ gìn cảnh quan, môi trường của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa.

Trồng dâu tây trong nhà lưới tại Nông trường VinEco Tam Đảo

Triển khai Quyết định số 899/QĐ-TTg của Chính phủ về “Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp”, ngày 17/2/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc ban hành “Chương trình hành động số 614/CTr-UBND” thực hiện đề án. Theo đó, tỉnh chủ trương tập trung, ưu tiên hỗ trợ các ngành hàng nông, lâm, thủy sản chủ lực, theo chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ, mô hình sản xuất áp dụng công nghệ sản xuất an toàn, xanh, sạch; đồng thời, phát triển các ngành dịch vụ, công nghiệp phù hợp với trình độ của lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông thôn sang các lĩnh vực khác.

Ngày 10/11/2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc ban hành Quyết định số 3216/QĐ-UBND phê duyệt “Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp gắn với chuyển đổi cơ cấu lao động nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” (gọi tắt là: Đề án tái cơ cấu ngànhNông nghiệp). Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành 1 chỉ thị, 7 nghị quyết, 18 quyết định, 6 quy hoạch và các kế hoạch triển khai tái cơ cấu ngành Nông nghiệp.

Vĩnh Phúc là tỉnh đi đầu cả nước về “Giảm đóng góp, tăng đầu tư, phát triển nông thôn toàn diện”, xóa thủy lợi phí; thực hiện chính sách cấp đất dịch vụ cho người nông dân khi thu hồi đất thực hiện dự án phát triển công nghiệp, dịch vụ; miễn học phí cho học sinh mầm non ở khu vực nông thôn; cấp đất dịch vụ cho nông dân ở những nơi giao đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị và hỗ trợ cho nông dân được bồi dưỡng, nâng cao kiến thức; hỗ trợ vùng trồng trọt và xây dựng khu sản xuất tập trung; hỗ trợ xây dựng giao thông nông thôn; kiên cố hóa kênh mương; hỗ trợ xây nhà văn hoá thôn; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề; hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực… Đây là những đòn bẩy tạo “thế” và “lực” cho nông nghiệp phát triển bền vững!

Thực tế cho thấy, nhờ có tốc độ phát triển công nghiệp - xây dựng nhanh, Vĩnh Phúc có nguồn thu ngân sách ngày càng tăng và tăng cao. Riêng trong 5 năm 2011-2015, tốc độ tăng trưởng bình quân của nền kinh tế đạt 9,55%/năm. Trong khi đó, tốc độ phát triển nông nghiệp (bao gồm nông, lâm, thủy sản) chỉ tăng 3,66%. Tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu GDP (tổng sản phẩm nội địa) giảm từ 28,9% năm 2000 xuống còn 9,77% năm 2015, năm 2018 chỉ còn 8,17%. Trong khi tỷ trọng công nghiệp - xây dựng năm 2018 đạt 60,71%, nông nghiệp chỉ còn 8,17% mà tỷ trọng lao động trong ngành Nông nghiệp vẫn chiếm 37,02%/tổng số lao động của tỉnh. Đến cuối năm 2018, đã có 104/112 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Với con số này, cho thấy, ở khu vực nông thôn, lực lượng lao động nông nghiệp vẫn còn rất dồi dào, cần có sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa về nếp nghĩ, cách làm để sản xuất, kinh doanh đem lại hiệu quả cao hơn.Vấn đề đặt ra, nông nghiệp sẽ phát triển theo hướng nào?

Theo báo cáo thống kê, việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và đưa các giống cây trồng mới vào sản xuất đã lấp đầy những khoảng trống của sản xuất; năng suất, sản lượng nhiều năm qua tăng cao. Song, hiện tượng nông dân bỏ ruộng không canh tác vì lợi nhuận thu được thấp vẫn xảy ra.Theo báo cáo của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, trung bình mỗi năm có hơn 20.000 lao động được bố trí việc làm, hơn 24.000 người được đào tạo nghề. Thế nhưng, hàng năm cũng có hàng ngàn lao động hết thời hạn hợp đồng (nhất là lao động nữ trên 34 tuổi) tại các doanh nghiệp trong và ngoài nước trên địa bàn tỉnh trở về nông thôn… Cho nên, tổ chức lại lao động phù hợp với chuyển dịch cơ cấu sản xuất càng trở nên cấp bách.

Trước những đòi hỏi của thị trường đầy cạnh tranh khốc liệt, nông nghiệp Vĩnh Phúc còn rất nhiều khó khăn, nhất là: Sản xuất dàn trải, quy mô sản xuất nhỏ, đất đai manh mún, phân tán, công tác dồn thửa, đổi ruộng để tích tụ ruộng đất còn gặp nhiều khó khăn; liên kết sản xuất và tiêu thụ theo chuỗi sản phẩm yếu, thị trường tiêu thụ nông sản không ổn định. Các cơ sở chế biến nhỏ lẻ, kém phát triển. Sản phẩm nông nghiệp chưa xây dựng được thương hiệu. Hoạt động của nhiều hợp tác xã nông nghiệp yếu; các hình thức tổ chức sản xuất như tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới, hợp tác xã chuyên cây - con chậm hình thành; hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu vẫn là hộ gia đình nên hiệu suất lao động thấp, giới trẻ không muốn gắn bó với nông nghiệp... Nói chung, sản xuất nông nghiệp của Vĩnh Phúc còn thiếu đồng bộ. Những khó khăn này không thể khắc phục trong “một sớm một chiều”!

Cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức của các cấp,ngành, các địa phương và người nông dân về nhiệm vụ tái cơ cấu lại nông nghiệp là việc làm cần thiết. Khi cụ thể hóa nội dung đề án tại địa phương, các huyện, thành đều phải xác định các mục tiêu là: Bảo đảm tốc độ tăng trưởng nông nghiệp, tăng tính cạnh tranh sản phẩm nông nghiệp; tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống của người nông dân; sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường. Từ đó, cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng phát triển các ngành sản xuất hàng hóa có quy mô lớn, sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường, có tính cạnh tranh cao, bảo đảm an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường. Các địa phương lựa chọn ngành hàng chủ lực để tập trung đầu tư, hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân.

Công khai, minh bạch cơ chế, chính sách ưu đãi và tích tụ ruộng đất, tạo ra “vùng đất sạch” để các doanh nghiệp yên tâm đầu tư lâu dài cũng là một thế mạnh của Vĩnh Phúc. Kinh nghiệm từ những năm qua cho thấy, nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đến Vĩnh Phúc vì họ có lòng tin ở chính sách nhất quán trong thu hút đầu tư của tỉnh. Theo báo cáo của ngành Nông nghiệp, thời gian qua đã có một số doanh nghiệp đến đăng ký và tiến hành đầu tư. Trong đó, có những doanh nghiệp đầu tư sản xuất nông nghiệp công nghệ cao như: Công ty TNHH sản xuất và phân phối nông sản sạch OFP (Hà Nội) đầu tư hơn 3 tỷ đồng làm 4,5ha trang trại sản xuất các mặt hàng nông sản sạch tại xã Liên Châu (Yên Lạc); Tập đoàn Vingroup đầu tư gần 1.000 tỷ đồng xây dựng nhà kính để sản xuất nông nghiệp sử dụng công nghệ của Israel tại huyện Tam Đảo…Việc các doanh nghiệp thuê nông dân làm việc trên chính thửa ruộng của mình không chỉ đem lại cuộc sống ổn định mà còn giúp người nông dân trở thành “công nhân nông nghiệp”.

Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện nhiều mô hình tổ chức sản xuất mới như: Cánh đồng mẫu lớn ở Tam Dương, Yên Lạc; trồng ngô biến đổi gen ở xã Hợp Thịnh (Tam Dương); sản xuất rau quả theo hướng VietGAP ở nhiều vùng nông thôn; vùng trồng lúa chất lượng cao ở Vĩnh Tường, Yên Lạc; trồng thanh long ruột đỏ ở Lập Thạch, rau su su ở Tam Đảo; chăn nuôi bò sữa ở Vĩnh Tường, gà ở Tam Dương, Tam Đảo, lợn ở Lập Thạch, Yên Lạc… Hàng ngàn mô hình gia trại, trang trại nuôi, trồng nông, lâm, thủy sản của hội viên Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh mang lại hiệu quả cao. Đây cũng là một hướng thu hút được nhiều lao động tham gia.

Xin chưa bàn đến việc xây dựng mô hình Hợp tác xã kiểu mới thích ứng với cơ chế thị trường; chưa bàn đến tác động môi trường với sản xuất, chăn nuôi và hiệu quả ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất… Năm 2018, đã có hơn 70% diện tích của tỉnh gieo trồng các giống lúa năng suất, chất lượng cao, tăng 15% so với năm 2017. Đến nay, nông dân các huyện,thành trong tỉnh đã chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây khác được hơn 6.300ha (giai đoạn 2013 - 2017), năm 2018 trồng được 2.040 ha. Các khâu làm đất bằng máy chiếm hơn 90%, thu hoạch lúa bằng máy đạt hơn 70% diện tích.

Toàn tỉnh đã có 789 vùng với tổng diện tích 6.239,21 ha trồng trọt sản xuất hàng hóa. Diện tích canh tác rau an toàn1.641,6ha ở 71/84 xã, đạt 52,5% diện tích quy hoạch. Nhiều loại cây trồng chất lượng cao, an toàn, trở thành “đặc sản”, mang lại giá trị thu nhập cao cho địa phương, như: Bí đỏ đạt 64 triệu đồng/ha/vụ, ớt đạt 110 triệu đồng/ha/vụ, dưa các loại đạt 143 triệu đồng/ha/vụ, cà chua đạt 183 triệu đồng/ha/vụ, su su đạt hơn 200 triệu đồng/ha/năm…

Trong chăn nuôi, trên địa bàn tỉnh đã có 1.021 trang trại. Năm 2018, tổng đàn bò giảm 3,8%, nhưng đàn bò sữa tăng với 10.709 con,đạt 110,3% kế hoạch, tăng 14,7% so với năm 2017; đàn lợn 644,6 nghìn con, đạt 107% kế hoạch, tăng 0,1%; đàn gia cầm có hơn 10,52 triệu con, tăng 5,9% so với năm 2017. Giai đoạn 2013 - 2017, giá trị sản xuất chăn nuôi (giá so sánh năm 2010) tăng bình quân 5,97%; năm 2017 đạt 5.104,7 tỷ đồng, tăng 24% so với năm 2013; năm 2018 đạt gần 5.350 tỷ đồng, tăng 4,8% so với năm 2017.

Hơn 5 năm qua, nông nghiệp Vĩnh Phúc chuyển dịch mạnh theo hướng “thích ứng thị trường”: Các loại hình kinh tế tập thể và hình thức liên kết sản xuất được mở rộng, chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính, các mô hình sản xuất hàng hóa tập trung được hình thành, việc ứng dụng công nghệ cao và tiến bộ khoa học - kỹ thuật được đẩy mạnh và sản phẩm nông nghiệp ngày càng bảo đảm an toàn và sạch; tạo được nhiều việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững. Theo tiêu chí mới, năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh chỉ còn 2,11%.

Thực tiễn chứng minh: Những thành công của nông nghiệp Vĩnh Phúc gần 70 năm qua đều xuất phát từ tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cả một tập thể những người có trách nhiệm đối với quê hương, đất nước! Vĩnh Phúc đã và đang có đà “Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao”.

Vũ Quang Đồng



TAG:
Tin tức Mới:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: