Kinh Tế

Giải bài toán phát triển nông nghiệp bền vững

Thứ Tư, 13/03/2019

Kỳ I: Bài học từ lịch sử

Hơn 20 năm qua, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở Vĩnh Phúc diễn ra rất nhanh, diện tích sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp. Để nâng cao đời sống nhân dân và bảo đảm an ninh lương thực, tái cơ cấu ngành Nông nghiệp nhằm tổ chức lại sản xuất, nâng cao giá trị sản phẩm trở thành yêu cầu bức thiết…

Mô hình trồng hoa trong nhà lưới mang lại hiệu quả kinh tế cao của gia đình anh Đỗ Trung Kiên, ở thôn Liên Bình, thị trấn Hợp Hòa, huyện Tam Dương. Ảnh Khánh Linh

 

Tỉnh Vĩnh Phúc nằm giữa vùng Bắc bộ, có 4 con sông chảy qua là sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy và sông Cà Lồ. Trước đây, Vĩnh Phúc là tỉnh thuần nông, các nhà máy, xí nghiệp đóng trên địa bàn đều nhỏ, không có sức nặng làm thay đổi cơ cấu kinh tế. Sản xuất nông nghiệp manh mún, thiếu đồng bộ, bị chi phối bởi nhiều yếu tố tác động (thời tiết, biến đổi khí hậu, chiến tranh, trình độ canh tác lạc hậu…) khiến nguồn cung lương thực, thực phẩm luôn trong tình trạng bấp bênh. Đời sống nhân dân (đại đa số là nông dân) rất khó khăn…

Được thành lập tháng 2/1950, giữa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra ác liệt, Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh đầu tiên thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ chia ruộng, cung cấp vốn, giống, trâu bò, nông cụ cho nông dân nghèo. Nhờ đưa cày 51 vào sử dụng thay cày chìa vôi đã giúp nông dân làm đất thuận lợi hơn. Việc cải tiến nhiều nông cụ (cày, bừa, phương tiện vận chuyển…) trở thành động lực thúc đẩy nông dân hăng hái tăng gia, sản xuất.

Năm 1954 - ngay khi mới giải phóng, để khôi phục kinh tế - xã hội, hàn gắn vết thương chiến tranh, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc chỉ đạo các cấp, ngành, các đoàn thể vận động nông dân tích cực khai hoang, phục hóa, mô hình “tổ đổi công” được thành lập, nhờ vậy, năng suất lao động và cây trồng tăng lên, khắc phục được nạn thiếu đói ở địa phương.

Năm 1960, Vĩnh Phúc hoàn thành hợp tác hóa nông nghiệp. Toàn tỉnh thành lập được 1.350 hợp tác xã. Nông nghiệp bước sang cơ chế quản lý mới. Nhiều hợp tác xã như: Lạc Trung, Hòa Loan, Thôn Thượng, Phương Trù, Văn Quán… trở thành những điển hình tiên tiến về cung cách quản lý và điều hành sản xuất có hiệu quả.

Ngày 10/9/1966, Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc ban hành Nghị quyết 68 NQ/TU về “Một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong hợp tác xã hiện nay” (sau này được gọi là “Khoán hộ Kim Ngọc”). “3 khoán” của Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc đã khắc phục được tình trạng “dong công, phóng điểm”, lãng phí nguồn lực lao động, đất đai và các tiềm năng trong nông nghiệp. Năm 1967, 70% hợp tác xã trong tỉnh đạt năng suất bình quân từ 6 tấn đến trên 7 tấn thóc/ha. Vĩnh Phúc đủ lương thực, thực phẩm đảm bảo ổn định đời sống nhân dân và cung cấp cho chiến trường đánh Mỹ.

Từ tháng 3/1968 đến tháng 12/1996, Vĩnh Phúc và Phú Thọ sáp nhập thành tỉnh Vĩnh Phú. 29 năm đoàn kết phấn đấu, nông nghiệp Vĩnh Phú đạt được nhiều tiến bộ, đảm bảo “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” góp sức,chung lòng chống Mỹ cứu nước thắng lợi.

Từ năm 1976, Vĩnh Phú cùng cả nước tiến hành “Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp” với mô hình quản lý “Hợp tác xã toàn xã”. Trên địa bàn Vĩnh Phúc, nhiều xã tổ chức có hiệu quả mô hình quản lý mới như: Hợp Thịnh, Duy Phiên,Thanh Vân (Tam Dương), Đại Đồng, Chấn Hưng, Lũng Hòa (Vĩnh Tường), Minh Tân, Yên Phương, Nguyệt Đức (Yên Lạc), Thanh Lãng, Hương Canh, Tân Phong, Quất Lưu (Bình Xuyên)…

Nhiều hợp tác xã hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất như: Tứ Trưng, Thượng Trưng, Vĩnh Thịnh (Vĩnh Tường), Tam Hồng, Liên Châu, Tề Lỗ (Yên Lạc) Thái Hòa, Ngọc Mỹ (Lập Thạch), Đạo Đức, Phú Xuân, Bá Hiến (Bình Xuyên), Hoàng Đan, Hoàng Hoa, Hoàng Lâu (Tam Dương).

Tuy nhiên, mô hình Hợp tác xã toàn xã sớm bộc lộ nhiều bất cập, nhiều tiêu cực phát sinh. Theo Biên niên các sự kiện lịch sử Đảng bộ tỉnh: Tháng 11/1980, Thường trực Tỉnh ủy Vĩnh Phú tổ chức hội nghị “Sơ kết làm thử khoán sản phẩm cây lúa cho xã viên”. Đây là lần thứ 2, tỉnh Vĩnh Phú “phá rào” trong quản lý nông nghiệp, nhưng lại là một trong những cơ sở thực tiễn giúp Trung ương ban hành Chỉ thị khoán 100 năm 1981. Năm 1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết khoán 10, tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp “bung ra” theo hướng thị trường.

Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, cùng với việc Hợp tác xã Hợp Thịnh trồng ngô đông trên nền đất ướt, đặt nền móng để miền Bắc đưa vụ đông trở thành vụ sản xuất chính, Hợp tác xã Thanh Lãng (Bình Xuyên) đã mở rộng diện tích trồng các loại rau cao cấp, nhiều hợp tác xã của các huyện Yên Lạc, Vĩnh Tường, Tam Dương, Lập Thạch mạnh dạn giao ruộng, trâu, bò, nông cụ cho nông dân - một hình thức “khoán hộ chủ động”, khuyến khích người nông dân tự chủ, năng động hơn. Các ban quản trị hợp tác xã chuyển dần sang làm dịch vụ.

Năm 1997, tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập. Nông nghiệp Vĩnh Phúc đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Đó là: Sản xuất nông nghiệp vẫn trong tình trạng manh mún, nhỏ lẻ, thiếu đồng bộ, mất cân đối, thường xuyên đối mặt với rất nhiều rủi ro. Nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí ngày càng tăng.Công tác tuyên truyền và việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất của người nông dân chưa tạo thành nền nếp. Mô hình hợp tác xã kiểu cũ không còn phù hợp, hoạt động của các hợp tác xã dịch vụ kém hiệu quả. Sức sản xuất của kinh tế hộ gia đình quá nhỏ bé, thiếu liên kết, dễ bị tổn thương bởi sự tác động của cơ chế thị trường…

Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã chỉ đạo sát sao ngành Nông nghiệp triển khai các biện pháp tháo gỡ khó khăn, tổ chức lại sản xuất. Trong 2 ngày 22 và 23/7/1997, Tỉnh ủy dưới sự chủ trì của đồng chí Bùi Hữu Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy đã tổ chức hội nghị mở rộng bàn 2 chuyên đề: “Đổi mới hợp tác xã” và “Chuyển đổi dồn ghép ruộng đất”. Đây là một trong những giải pháp tạo tiền đề cho nông nghiệp phát triển theo hướng thị trường.

Ngày 14/8/1997, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tổ chức hội nghị bàn kế hoạch tổng thể chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2010. Ngày 24/12/1997, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc tổng kết năm 1997. Tại hội nghị này, Tỉnh ủy đánh giá: Năm 1997, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội cao và tương đối toàn diện. Tổng sản phẩm GDP tăng 19,51% so với năm 1996. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: Nông nghiệp từ 49% giảm còn 42,6%; công nghiệp - xây dựng từ 13% tăng lên 20,1%; dịch vụ từ 36% tăng lên 37,9%. Giá trị sản xuất và xây dựng đạt tốc độ phát triển khá cao, nhất là kinh tế Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Sản xuất nông nghiệp tuy gặp nhiều khó khăn do thiên tai,song kết quả đạt khá. Sản lượng lương thực tăng 15,6% so với năm 1996. Về chăn nuôi giữ ổn định và có tiến bộ, đàn trâu, bò tăng 1,3%; đàn lợn tăng 7% so với năm 1996…

Từ những kết quả của năm đầu tái lập, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc xác định hướng đi mới. Đó là, tập trung phát triển công nghiệp, lấy thu hút đầu tư làm khâu đột phá, mũi nhọn chủ công, làm điểm tựa cho sự phát triển. Tỉnh đã quy hoạch 14 khu và cụm công nghiệp và giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao (bình quân 8 năm 1997-2004 là 16,6%). Nhờ đó, năm 2004, tỉnh Vĩnh Phúc tự cân đối được thu - chi ngân sách và có nguồn điều tiết ngân sách Trung ương.

Với quan điểm “Lấy phát triển công nghiệp làm nền tảng và có điều kiện đầu tư trở lại phục vụ nông nghiệp”, ngày 27/12/2006, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành Nghị quyết 03-NQ/TU về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2020.

Nghị quyết 03 của Tỉnh ủy đã tạo “cú hích” cho nông nghiệp phát triển toàn diện, nông thôn được đầu tư, tạo đà cho xây dựng nông thôn mới và đời sốngnông dân được nâng lên cả về vật chất và tinh thần. Với quyết định miễn và giảm thủy lợi phí, đầu tư làm giao thông nội đồng và hoàn thiện “điện, đường, trường, trạm”, cùng nhiều ưu tiên phúc lợi khác, tỉnh đã giảm được nhiều gánh nặng lo toan cho người nông dân.

Để có thương hiệu cho sản phẩm nông nghiệp, cùng với tuyên truyền, vận động nông dân dồn điền đổi thửa, làm gia trại, trang trại, ngành Nông nghiệp tỉnh đã xây dựng được một số vùng sản xuất hàng hoá như: Lúa chất lượng cao Yên Lạc, Vĩnh Tường; gạo Long Trì (Tam Dương); bí đỏ Vĩnh Tường; dưa chuột An Hoà (Tam Dương); su su Tam Đảo... với tổng diện tích gần 14 nghìn héc ta cây trồng các loại. Năm 2009, tỉnh cho thí điểm xây dựng 12 khu sản xuất tập trung. Năm 2010, tỉnh cho chủ trương đầu tư 27 khu sản xuất tập trung, trong đó, 25 khu chuyên chăn nuôi và 2 khu chuyên trồng trọt ứng dụng công nghệ cao…

Cũng từ năm 2008, trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện một số nhóm hộ gia đình liên kết sản xuất, kinh doanh và làm ăn có hiệu quả. Đây là hình thức “manh nha” của mô hình “Hợp tác xã kiểu mới”. Mặc dù bị ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, tài chính thế giới, thời tiết bất lợi, dịch hại cây trồng, vật nuôi diễn biến phức tạp… nông nghiệp Vĩnh Phúc vẫn được mùa liên tục, năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất trên đơn vị diện tích và thu nhập của nông dân đều tăng. Tốc độ tăng trưởng GRDP nông, lâm nghiệp, thủy sản trong cả giai đoạn 1997-2016 tăng hơn 5,5%/năm. Năm 2017, thu nhập ở khu vực nông thôn đạt hơn 31 triệu đồng/người/năm, gấp 2,6 lần so với năm 2008.

Theo nhiều nhà nghiên cứu về Vĩnh Phúc đánh giá: Sau Nghị quyết 68 - “Khoán hộ Kim Ngọc”, Nghị quyết số 03/TU-2006 của Tỉnh ủy về nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nâng dân được coi là lần thứ 2, Vĩnh Phúc đi tắt, đón đầu Nghị quyết của Đảng về phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân.

Vũ Quang Đồng

(Còn nữa)



TAG:
Tin tức Mới:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: