Kinh Tế

4 nhóm ngành đáng để đầu tư năm 2014

Thứ Ba, 21/01/2014

Bất động sản và xây dựng, chứng khoán, y dược, hàng tiêu dùng, xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt là nông thủy sản là nhóm được đánh giá cao. Nhưng lựa chọn ra lệnh mua, tất nhiên còn tùy mã!

Bất động sản và xây dựng

Nhóm ngành này sẽ được hưởng lợi từ các chính sách hỗ trợ kinh tế chung, đặc biệt là chính sách về tăng trưởng tín dụng, kiểm soát lạm phát và duy trì lãi suất thương mại thấp. Lãi suất cho vay trong năm 2014 được kỳ vọng tiếp tục ở mức thấp, nên chi phí lãi vay của các DN bất động sản và xây dựng sẽ giảm đáng kể.

Gói hỗ trợ vay vốn mua nhà 30.000 tỷ đồng đang được quan tâm tháo gỡ các trở ngại trong giải ngân, sẽ góp phần không nhỏ trong việc giải quyết hàng tồn kho bất động sản trong năm 2014.

Trong khi đó, thị trường nhà đất sau nhiều năm khủng hoảng đang có những tín hiệu khả quan, đặc biệt là ở phân khúc nhà đất giá rẻ, phù hợp với nhu cầu của phần lớn người dân.

Dự báo, những công ty bất động sản có tài sản lớn, có tầm chiến lược sẽ là mục tiêu của dòng vốn M&A từ nước ngoài, nhất là khi quyết định nới “room” cho NĐT nước ngoài được thông qua.

Trên TTCK, thị giá cổ phiếu của các DN bất động sản và xây dựng đang ở mức thấp so với mặt bằng chung, do vậy sẽ thu hút sự chú ý của nhiều NĐT.

Chứng khoán

Mặc dù ngành chứng khoán vẫn gặp nhiều khó khăn, nhưng các DN đầu ngành này vẫn là mục tiêu của nhiều NĐT trong và ngoài nước. Điều này được thấy rõ qua hiện tượng hết “room” nước ngoài tại CTCK SSI và HCM.

Năm qua, TTCK Việt Nam là một trong những thị trường tăng điểm mạnh nhất thế giới và quá trình tăng điểm này đang được kỳ vọng sẽ tiếp tục, khi nền kinh tế dần trở lại quỹ đạo tăng trưởng. Các NĐT nước ngoài, đặc biệt là NĐT chiến lược, sẽ tham gia nhiều hơn vào việc chia “miếng bánh” trên TTCK. Từ đó, nhiều CTCK nội sẽ là mục tiêu thâu tóm của các tổ chức đầu tư, nhất là khi quyết định nới “room” cho NĐT nước ngoài được thông qua. Việc gia tăng tỷ lệ sở hữu này không chỉ tác động trực tiếp đến thị giá cổ phiếu của các CTCK lớn, mà còn ảnh hưởng gián tiếp đến cổ phiếu của các CTCK khác theo hiệu ứng lan tỏa.

Trong khi đó, kết quả kinh doanh của nhiều CTCK được cải thiện đáng kể trong năm qua. Nếu TTCK tiếp tục diễn biến tích cực trong năm tới thì doanh số cũng như lợi nhuận của các CTCK sẽ gia tăng đáng kể từ các mảng nghiệp vụ như môi giới, tự doanh, ngân hàng đầu tư, quản lý quỹ.

Thị giá cổ phiếu của các CTCK cũng đang ở mức thấp so với mặt bằng chung, do kết quả kinh doanh yếu kém vài năm trước. Yếu tố thị giá thấp sẽ giúp cho các CTCK hưởng lợi từ tâm lý so sánh mặt bằng giá. Cổ phiếu của các CTCK đang hết room và các CTCK có hoạt động kinh doanh hiệu quả, tình hình tài chính lành mạnh sẽ thu hút dòng tiền trước tiên.

Y dược, hàng tiêu dùng

Nhóm ngành y dược và sản xuất hàng tiêu dùng đã đứng vững trong những năm qua và là động lực nâng đỡ thị trường, đặc biệt là các cổ phiếu có vốn hóa lớn. Nhờ vào hiệu quả kinh doanh và tình hình tài chính ổn định, nhóm ngành này thường nhận được sự quan tâm của các NĐT nước ngoài, với tỷ lệ sở hữu khá cao so với toàn thị trường. Vì thế, cổ phiếu của các DN này sẽ được hưởng lợi trực tiếp khi quyết định nới “room” ngoại được thông qua.

Tuy nhiên, thị giá cổ phiếu của nhóm ngành này đang ở mức cao tương đối so với mặt bằng chung toàn thị trường. Hơn nữa, do tính chất cơ bản ổn định và minh bạch nên dư địa tăng giá không quá cao và thường phù hợp với những NĐT dài hạn.

Xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt là nông thủy sản

Do đặc thù hàng tồn kho cao, nhu cầu tích trữ nguyên liệu đầu vào lớn nên các DN xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt là nông thủy sản thường có mức vay nợ cao. Nhóm DN này nhìn chung đã chịu nhiều khó khăn trong những năm vừa qua, khi giá hàng hóa giảm mạnh trên thị trường thế giới. Ngoại trừ một số DN có năng lực quản trị tốt, chiến lược kinh doanh hiệu quả và có phân khúc thị trường riêng như ABT, AGF, thì nhiều DN trong nhóm ngành này đã rơi sâu vào khủng hoảng như BAS (đã hủy niêm yết), ICF, VNH… Tuy nhiên, nhờ nỗ lực giải quyết khó khăn, không ít DN đã thành công bước đầu trong việc tái cơ cấu và giá cổ phiếu phục hồi đáng kể.

Các DN này sẽ được hưởng lợi từ chính sách kích thích xuất khẩu như cho vay ưu đãi với lãi suất thấp, điều chỉnh tăng tỷ giá... Nếu tỷ giá USD/VND trong năm 2014 được điều chỉnh tăng trong giới hạn 2% như nhiều chuyên gia dự báo, thì các DN xuất khẩu hàng hóa sẽ tăng được doanh thu bằng VND và tăng biên lợi nhuận gộp.

Đối với các DN xuất khẩu tôm, trong năm 2013, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã công nhận tôm Việt Nam không bán phá giá ở giai đoạn 2011 - 2012. Mặc dù kết luận này chỉ tạm thời và áp dụng cho các hợp đồng đã xuất khẩu trước đây, nhưng giúp cho các DN xuất khẩu tôm có thể kỳ vọng vào mức thuế 0% trong thời gian tiếp theo, nếu điều kiện sản xuất và bán hàng của Việt Nam được duy trì ổn định.

Tín dụng bất động sản: Tắc ở đâu?

Mặc dù lãi suất giảm và điều kiện cho khách hàng vay cũng đã được nới lỏng, nhưng nhiều DN vẫn “kêu” khó tiếp cận khoản vay, cho thấy còn nhiều điểm “tắc”, khiến tín dụng cho bất động sản vẫn chưa thể thông.

Tại TP. HCM, CTCP Địa ốc Hoàng Quân là một trong những DN đầu tiên được Bộ Xây dựng phê duyệt đủ điều kiện vay gói ưu đãi 30.000 tỷ đồng. Ngân hàng cũng đã đồng ý cho Hoàng Quân vay số tiền 540 tỷ đồng, nhưng cho đến nay, ngân hàng vẫn chưa thể giải ngân cho DN này.

Theo quy định, DN phải có tối đa 30% vốn đối ứng và không có nợ xấu. Tuy nhiên, để có 30% vốn đối ứng với Hoàng Quân là một giấc mơ không tưởng. BCTC quý III/2013 của Hoàng Quân cho thấy, tiền và các khoản tương đương tiền chỉ còn 7 tỷ đồng, trong khi khối nợ ngắn hạn lên đến gần 1.300 tỷ đồng.

Một trường hợp khác là CTCP Đầu tư xây dựng và khai thác công trình giao thông 584 (NTB), dù được TP. HCM chấp thuận cho chuyển đổi dự án, nhưng với tình hình tài chính hiện tại, NTB cũng không đủ điều kiện để tiếp cận khoản vay triển khai dự án.

BCTC quý II/2013 của Công ty cho thấy, tiền và các khoản tương đương tiền chỉ còn trên 1 tỷ đồng, trong khi nợ ngắn hạn lên đến trên 2.000 tỷ đồng. Chưa kể đến việc tháng 7/2013, NTB đã bị hủy niêm yết bắt buộc do không thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin. Đến nay, NTB vẫn “im hơi lặng tiếng”. Với tình hình tài chính không mấy sáng sủa như vậy, ngân hàng khó có thể nới lỏng điều kiện cho vay!

Tuy nhiên, ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP. HCM cho rằng, vẫn còn giải pháp đối với các DN này.

“NHNN có thể chỉ đạo các NHTM cho các DN làm nhà ở xã hội được vay vốn ưu đãi, nhưng chuyển vào tài khoản phong tỏa và chỉ được giải ngân cho đúng danh mục công trình, đã có khối lượng nghiệm thu giai đoạn theo quy định”, ông Châu nói và kiến nghị, rút quy định về vốn đối ứng xuống còn 10% thay vì 30% như hiện tại. Nhưng ngay cả khi chỉ cần 10% vốn đối ứng thì với các DN “cháy túi” như trên cũng không phải điều dễ dàng.

Với những DN khó khăn là vậy, nhưng với những đơn vị kinh doanh tốt, làm sao để tiếp cận khoản vay có lãi suất ưu đãi hơn cũng là cả một vấn đề.

Ông Lê Hữu Nghĩa, Tổng giám đốc Công ty Lê Thành cho biết, tổng nợ vay của Lê Thành khoảng 50 tỷ đồng, Công ty không có nợ xấu, các dự án vẫn đang triển khai và bán hàng tốt. Trước đây, khoản vay chịu lãi suất 18%/năm, hiện nay vẫn phải trả 14,5%/năm.

“Chúng tôi không hy vọng tiếp cận được khoản vay lãi suất 5%/năm, nhưng nếu có thể hạ xuống 9 - 10%/năm là đã gỡ khó cho DN rất nhiều”, ông Nghĩa nói và cho biết thêm, hiện Lê Thành đang xây dựng nhà ở thương mại cho thuê mua trong vòng 49 năm với giá 10 triệu đồng/m2, người mua trả 50 triệu đồng khi ký hợp đồng và mỗi tháng trả góp 6 triệu đồng. Như vậy, so với nhà ở xã hội thì điều kiện cho người mua còn ưu đãi hơn, nhưng DN không được hưởng bất kỳ khoản ưu đãi nào.

Ngoài những nguyên nhân trên, thì vấn đề lãi suất không cố định cũng là lý do khiến tín dụng bất động sản chưa thể thông.

Theo bà Lưu Thị Thanh Mẫu, Tổng giám đốc Công ty Địa ốc Phúc Khang, hiện hầu hết ngân hàng đều đưa ra gói lãi suất hấp dẫn 8 - 9%/năm, nhưng chỉ ổn định trong vòng 6 tháng hoặc 1 năm, sau đó lãi suất được thả nổi. Việc thả nổi có thể đẩy lãi suất lên đến 12 - 14%/năm, khiến cả chủ đầu tư và người mua đều dè chừng khi tiếp cận khoản vay. Với DN sẽ không tính chính xác tổng mức đầu tư, trong khi người mua có thể mất khả năng thanh toán vì lãi suất quá cao.

“Ngân hàng phải đưa ra thời gian ổn định lãi suất trong vòng 3 hay 5 năm, sau đó tăng giảm thì phải có biên độ rõ ràng”, bà Mẫu kiến nghị.

Năm 2014, nhiều chuyên gia đều cho rằng, với sự tác động từ chính sách tài chính cho thị trường, thị trường sẽ ấm dần lên. Tuy nhiên, từ kỳ vọng đến thực tế còn phải qua rất nhiều "cửa" hành chính cần được khơi thông./.

C.N (Theo ĐTCK)


TAG:

Ý kiến của bạn

Họ tên:
Email: